Chúc các bạn một ngày vui vẻ và hạnh phúc.

    [Truyện Ma] - MỜ-A-MA


    Ám ảnh mỗi khi về quê

    Quê em ở Ninh Bình, một vùng quê được bao phủ bởi núi đá trùng điệp, người thì thưa mà đất thì rộng, rừng cây um tùm bốn phía. Đến tận bây giờ, những năm của thế kỉ 21 mà ở quê em vẫn còn diễn ra chuyện hổ vào làng vồ trâu, trăn gió nuốt trộm dê, bò.
    Để trị hổ, trăn thì còn có súng đạn, bẫy, lưới,… nên người dân quê em cũng chẳng ngại gì lắm. Có người còn mừng vì chỉ mất vài con dê mà đổi lại được một con hổ hay một con trăn, bán rẻ cũng phải vài chục triệu. Nhưng dù có không sợ trời không sợ đất thì người dân quê cũng luôn mang trong mình nỗi sợ mơ hồ về một thứ không rõ ràng, đó là Ma. Sau đây em xin tổng hợp lại những chuyện em được nghe kể từ chính người thân của mình, và những câu chuyện em cóp nhặt được khi đi chơi ở những huyện khác trong tỉnh.



    Chuyện thứ nhất: Ma chó

    Đó là vào những năm 60, khi ông em vừa từ chiến trường Điện Biên Phủ trở về. Ông em kể lại rằng: Hôm đó, ông vừa hoàn thành xong một số việc giấy tờ, họp bàn với anh em trong đơn vị về việc tập kết để chuẩn bị vào Nam. Sau buổi họp thì đã xế chiều, anh em chào tạm biệt nhau rồi ai về quê người nấy, hẹn ngày 25 tháng Giêng, hai năm sau thì tất cả tập chung tại trụ sở của đơn vị. Nóng lòng muốn về nhà sau gần chục năm xa vợ xa con, ông em bắt ngay chuyến tàu cuối cùng của ngày hôm đó để về quê. Lúc ông xuống đến gha Ghềnh thì đã muộn lắm rồi, nhìn lên đồng hồ treo ở nhà ga thì bây giờ là 2 giờ sáng. Nhưng đang nóng lóng về nhà, lại thấy có sáng trăng nên ông quyết định đi xuyên đêm về nhà. Tính ông em vốn bạo gan, lại chẳng tin vào chuyện hồn ma bóng quế nên ông bỏ ngoài tai lời khuyên từ những người khách ở ga, khuyên ông nên ở lại đến sáng hãy về vì dạo này có lắm lời đồn về ma quỷ ở ngã ba vào thôn, ông cứ thế thẳng bước đi về, lòng chỉ mong về sớm được lúc nào hay lúc ấy. Đêm hôm đó, một mình ông đi trên con đường đất dài hơn 6 cây số từ ga Ghềnh về làng. Hai bên đường toàn là cây cối rậm rì, cách vài trăm mét mới có một vài nhà, thời đó lại chẳng mấy nhà có đèn điện, nên nhìn ngút tầm mắt chỉ thấy toàn cây là cây, thỉnh thoảng tiếng chim khắc ăn đêm lại kêu khé khé đến rợn người. Cơ mà ông em chẳng sợ, lại có sáng trăng nên cứ sải bước mà đi, vừa đi vừa nghĩ xem giờ này ở nhà đang làm gì. Đi được một lúc thì ông em bống thấy một con chó trắng tinh đi trước, cách ông một quãng ngắn, ông em thấy lạ liền bước nhanh về trước xem sao, vì ở quanh đây làm gì có mấy nhà mà có chó chạy ra đến tận đây, lại còn chó trắng tinh như chó nhà bọn theo Tây. Nhưng lạ là ông đi nhanh thì con chó cũng đi nhanh, ông đi chậm thì còn chó cũng đi chậm, lúc ông thử đứng lại thì con chó cũng đứng lại, mấy lần như vậy thì ông em nhận ra rằng cái thứ đi trước mình chẳng phải là chó mèo nhà nào cả. Ông em liền nhặt vài cục đá, đinh bất ngờ lao tới gần ném con chó xem nó làm sao, nghĩ sao làm vậy, ông em vơ bên vệ đường vài viên đá to bằng 2 nắm tay, ông ném liền ba phát: "Cục! Cục Cục…!" , tiếng đá chạm đất nghe đinh tai, nhưng ông em tự lại thấy lanh gáy vì từ nãy đến giờ cả ba phát ông em ném đều trúng lưng và đầu con chó, nhưng tại sao lại là ba tiếng đanh như vậy, mà con chó thì chẳng có phản ứng gì, vẫn lững thững đi trước ông. Ông em lúc này bắt đầu thấy ghê tay rồi, nhưng ông không biết sợ là gì nên lại cầm đá, lần này ông dồn sức ném thật mạnh, thì bống ùm một cái, con chó nhảy luôn xuống cái ao hoang bên đường rồi mất hút. Thấy chỉ ném vài viên đá mà đuổi được cái thứ kia nên ông em càng vững dạ, lại tiếp tục hướng thẳng đến làng. Đi thêm một lúc, ông em ước chừng chỉ còn vài cây là về đến nhà thì chợt ông em khựng người lại, đằng trước ông lại là con chó đó đang đi lững thững. Lúc này thì ông em không cảm thấy sợ nữa mà thấy cay lắm vì từ trước đến nay chưa ai dám chọc phá ông đến như thế cả. Ông khẽ rút từ trong ba lô ra con dao găm dài non một thước tây, hơi giấu vào sau lưng để thủ thế (vẫn là con dao này, con dao ông đã dùng để quần nhau với một con hổ khi còn trên Việt Bắc, đến giờ mặt ông em vẫn còn một vết sẹo, kết quả của cái tát với cuối cùng của con hổ, nhưng may sao ông em dùng dao gạt được từ đó ông em coi con dao này như vật hộ mệnh, mỗi khi có hiểm nguy thì ông đều sờ đến con dao đầu tiên).

    Vừa thủ con dao, ông em vừa đi tiếp, nhưng lần này ông bước thận trọng hơn. Đi tiếp đến đầu cầu thì con chó không còn giữ khoảng cách với ông nữa, ông em đến gần nó hơn. Và lần này thì ông thực sự thấy lạnh toát ống lưng khi thấy con chó bống nhảy phốc lên trên thành cầu, từ từ đi bằng hai chân sang bên kia cầu, cái thành cầu chỉ rộng bằng phần ba quyển vở học sinh, vậy mà con chó đi không hề chao đảo. Giờ thì ông em bắt đầu thấy lạnh dần từ sống lưng lên gáy, ông vẫn tiến tiếp, mắt ông theo sát con chó, tay chỉ chực vung con dao găm ra tấn công. Con chó đi tiếp đến đầu cầu bên kia, rồi nó ngồi trên cái trụ cầu, quay đầu lại nhìn chăm chằm vào ông, cái mõm hơi há ra như đang cười.Giờ, khoảng cách giũa ông và nó chỉ còn khoảng vài mét. Ông em đứng im mất vài giây rồi bất ngờ đâm thẳng con dao về phía trước, vọt người đến chỗ con chó, ông chửi to: " ĐM mày! Để tao xem mày là ma cỏ gì mà dám trêu vào tao!" Bất chợt con chó ẳng một tiếng rồi nhảy ùm xuống sông không thấy bóng dáng đâu nữa. Lúc này ông em mới thở phào nhẹ nhõm, đoạn đường tiếp theo về làng, ông em vẫn chú ý đề phòng con chó kia nhưng tuyệt nhiên không thấy nó đâu nữa.
    Tobe Continued……..



    Chuyện thứ hai: Nhà thầy học

    Cách đây hơn hơn 70 năm, khi ấy ông em vẫn còn là một thầy khóa, mang trong mình ước mơ khoa bảng để làm rạng danh tổ tiên. Hồi đó chữ nho và thi cử kiểu cũ vẫn còn thịnh ở các làng quê, những người đồng niên với ông đều theo học một ông tú trong làng. Nhưng vì ban ngày ai cũng phải lo việc đồng áng, buôn bán nên đến tối lớp học mới bắt đầu. Lớp học của ông nằm trên một quả đồi thoải thoải, biệt lập với xóm làng xung quanh. Suốt 2 năm đầu mọi chuyện vẫn diễn ra bình thường, tối đến thì học, học xong buổi thì về, trò nào nhà xa thì ngủ lại nhà thầy, cho đến một hôm.
    Đêm hôm đó, ông tú dạy xong thì phải sang làng bên chuẩn bị đám cưới cho con của một người bạn, trước khi đi, ông tú dặn học trò ở lại ngủ thì cẩn thận, lại cắt cử thêm mấy trò lớn tuổi nhất ở lại để trông nom bọn trò ấu học. Ông em tuy không nằm trong nhóm cắt cử ở lại nhưng nể lời bạn nên cũng ngủ lại vì chẳng mấy khi anh em có dịp hàn huyên, nhưng ông không thể nào ngờ nổi đêm nay lại là đêm khởi đầu của một chuỗi biến cố không chỉ với mình ông mà còn với cả cái làng nhỏ vốn bình yên này .
    Thầy đi được một lúc thì mấy trò lớn liền bàn ngay chuyện phân chia chỗ sao cho hợ lý. Bàn đi bàn lại một hồi thì mấy anh em liền hò nhau trải chiếu ra hiên mà nằm vì trong nhà vừa chật vừa nóng, mà nằm ngoài thì anh em lại được nói chuyện dễ, thích thì thức đến sáng mà bàn luận thơ văn cũng được. Thế là anh trưởng tràng liền phân chố nằm, cứ lớn nhất thì nằm ngoài, nhỏ dần, nhỏ dần thì chia mà nằm vào trong, để dãy ngoài cho các huynh lớn bàn truyện Nhưng bàn thơ, bình văn thì chẳng thấy đâu, chỉ thấy các anh bày đủ trò ra mà mà chọc phá nhau. Anh trưởng tràng được thể, chỉ tay ra vườn đùa: "Bọn mông học với ấu học nhìn cho kĩ nhớ! Thấy gì kia không? "Ngài" về đấy, đứa nào cười, đứa nào khóc, ngài ném cho u đầu" .Anh trưởng tràng vừa dứt lời thì "Xoảng!", một viên ngói ném từ trong vườn ra, trúng sát ngay bên cạnh chỗ anh trưởng tràng nằm. Mấy anh em thấy thế thì cười rộ lên, bảo nhau:" Thiêng thế nhỉ! Vừa có đứa cười xong, giờ lại sắp có đứa khóc đấy" Lúc này thì anh cáu lắm, chửi đổng: " Mẹ bọn trẻ con dưới xóm lên đây phá ! Ông bắt được thì ông vặn cổ chúng mày" Mấy anh em vừa cười xong giờ cũng bắt đầu thấy tức cho huynh lớn nên cũng hùa nhau vào chửi. Nhưng tiếng chửi vừa dứt thì liền 5-6 viên ngói ném từ trong vườn ra. Mọi người thấy thế thì đồng loạt đưa tay lên che đầu, vậy mà cả 5-6 viên ném ra đều không ai làm sao cả, trong khi toàn ném trúng ngay sát bên người, chỉ cần lệch thêm li nữa thì tan người.Bỗng một anh nhanh tay nhặt mảnh ngói còn nguyên, định ném trả. Nhưng chưa kịp ném thì anh này đã líu lưỡi lại, mặt cắt không còn giọt máu. Cả đám thấy vậy liền nhìn theo hướng anh kia, và hơn chục người cùng im bặt. Thứ mà anh kia nhìn thấy là một cái bóng nhỏ như đứa trẻ 5 tuổi, đỏ lừ như than hồng đang nhảy loi choi khắp vườn. Cái bóng đó bống đi chậm lại rồi từ từ tiến về vườn sau, nhưng càng đi thì cái bóng càng đen lại và to dần, người cứ ngày một tròn dần như cái ụ mối. "Nó" cứ thế đi dần ra vườn sau rồi mất, lúc gần đi đến cái hàng rào thì nó đã to như đống rơm rồi. Mấy anh hàng ngày gan lì cóc tía mà giờ đều sợ xanh mặt, im như phỗng. Sau đấy thì chẳng ai nói với ai câu nào, chỉ nhìn nhau rồi thức đến sáng, bọn ấu học với mộng học vẫn ngủ say chẳng biết gì. Sáng hôm sau, ông tú về, đem theo bao nhiêu là quà bánh, xôi thịt,… nhưng ông thấy lạ là sao mọi hôm thì bọn này như lũ chết đói mà hôm nay lại chê xôi thịt ê hề. Ông gặng hỏi thì anh trưởng tràng khẽ rỉ tai ông, ông liền bảo bon trò nhỏ tuổi lấy phần oản, xôi rồi ra ngoài chơi, tự chia nhau, Lúc này anh trưởng tràng mới từ từ thuật lại chuyện đêm qua cho ông tú. Ông tú nghe xong thì cười lớn, bảo: "Mấy anh đúng là thần hồn nát thần tính, là người đọc sách thánh hiền thì quỷ ma nào dám trêu ghẹo mấy anh, người ta bảo ma quỷ tự đâu ra, ma quỷ tự lòng ta là có lí của nó! Tâm mình không đục thì sợ cái gì nào? Học nhồi học nhét đến mụ cả đầu!". Mọi người thấy thầy nói phải nên cũng nguôi đi ít nhiều, có người lại tự trách mình làm gì để tâm bất chính nên mới sinh ra vậy. Mấy bữa sau, mọi chuyện lại diễn ra bình thường như trước, anh em vẫn ngủ lại nhà thầy như cũ mà chẳng sợ hãi gì cả. Nhưng mãi đến hơn 3 tháng sau mới có chuyện xảy ra, và lần này thì không còn đơn giản như chuyện mấy đứa học trò bị ma trêu nữa.....


    Chuyện thứ ba: Thầy phù thủy

    Vào những năm trước khi Chiến tranh Biên giới xảy ra, ở quê em ngoài những nghề như làm nông, thủ công, buôn bán thì còn có một nghề rất đặc biệt, mà không phải ai cũng làm được. Đó là nghề thầy phù thủy, hay như người tàu thường gọi đó là "bọn thuật sĩ giang hồ". 

    Các cụ kể lại rằng, người làm thầy phù thủy thì phải là nam, phải có dòng máu phù thủy trong người( nghĩa là trong dòng họ phải có người đã từng làm nghề này và đạt đến trình độ "tốt nghiệp"). Những người làm nghề này thì phải tuân theo lời thệ từ lúc bái sư đến cuối đời, nếu ai sai phạm thì sẽ bị trời phạt. Và đã từng có không ít người hóa điên, tán gia bại sản hay thậm chí là cả nhà chết sạch chỉ vì họ đã không tuân thủ theo lời thệ. Nhưng nội dung bản thệ đó thì những người ngoài nghề chẳng ai biết và cũng không hiểu nó có gì đặc biệt mà lại thay đổi được số vận của cả một con người như vậy.

    Thầy phù thủy cũng chia theo cấp bậc, dòng phái y như người ta học đại học bây giờ, có thầy giỏi thầy thường, có dòng chính tông, có dòng chi phái, dòng mạnh, dòng yếu,….nhưng được người đời biết đến nhiều nhất là hai dòng Nam tông và Bắc tông. Dòng Nam tông là dòng bùa chú được sáng tạo nên bởi những người ở phía nam Trung Quốc như vung Vân Nam, Tứ Xuyên, Miêu Cương,… và những nước phương Nam như nước ta hay Miến Điện, Xiêm,... Loại bùa chú Nam tông này dễ làm dễ sử dụng nhưng lại độc ác vô cùng, người học dòng này có thể sử dụng bùa chú để làm mọi chuyện, từ việc sai ma quỷ tát nước, đắp bờ đến việc vẽ một lá bùa để làm cho nhà hàng xóm bệnh tật liền vài ba đời đều được. Chỉ có điều là dòng bùa chú này sức mạnh không cao bằng Bắc tông, lại độc địa khó lường, chỉ gieo vạ cho con cháu đời sau nên không mấy người học. Còn dòng bùa chú Bắc tông là dòng bùa chú được coi là "chính thống" nhất, nhưng cũng khó sử dụng nhất, đây chính là loại bùa chú mà em muốn nói đến trong chuyện. Để học bùa chú Bắc tông rất khó, ngoài việc có dòng máu ra còn cần phải có trí thông minh, lính hội tốt, chịu nhiều gian nan khổ cực mới được sư phụ chấm sắc cho xuất sư, được tự do hành nghề phù thủy. Bùa chú Bắc tông nhìn trông y như loại bùa màu vàng mà nhà các bác hay dán trên cửa ý, chỉ khác cái là bùa Bắc tông thì nhìn rất đẹp nhưng chả ai hiểu nó viết cái gì. Nhưng để vẽ được một tờ bùa loại này thì phải lập đàn cúng tế, chọn ngày chọn giờ, bày trận bát quái ngũ hành, lục đinh lục giáp rất cầu kì, phức tạp.

    Giải thích sơ qua về bùa chú chút để lòe các thím, bây giờ thì em xin phép quay trở lại câu chuyện ở quê em. Bắt đầu từ những năm 30- 45, người Tàu sang bên ta định cư rất đông, họ đem theo cả nền văn hóa, phong tục của họ đến đất nước mới. Và tất nhiên, văn hóa bùa phép cũng theo người Tàu về quê em. Sau cái đợt người dân Trung Quốc ào ạt sang Việt Nam lánh nạn chiến tranh Quốc- Cộng thì làng em có rất nhiều người xin theo học mấy ông thầy Tàu phép bắt ma. Nhưng người thành tài thì ít mà người chán nản bỏ dở thì nhiều. Trải qua hơn chục năm, những ông thầy ở quê tưởng như phải bỏ nghề vì không có "đất dụng võ", ở cái làng quê yên bình này thì kiếm đâu ra ma quỷ, họa chăng có thì toàn là ma do mấy bà hàng rau hang thịt ở chợ tự thêu dệt nên. 

    Nhưng đến tháng 3 năm 1946 thì mọi chuyện ở quê em bắt đầu biến động. Khởi đầu là những làng xung quanh làng em, bắt đầu từ làng ngoại. Cứ đêm đến là đường làng lại có tiếng rục rịch rồi ào ào như có cả đoàn quân đi qua vậy, lắm nhà còn nghe thấy cả tiếng cây đổ ầm ầm, từ lúc nửa đêm đến đến gà gáy, không lúc nào ngớt. Người dân quê ban đầu tưởng là trộm cướp vào làng nên hò nhau đánh trống khua chiêng đổ xô ra đường. Nhưng ra đến ngoài thì lại lặng ngắt như tờ, cây cối vân ý nguyên. Vài lần như vậy, người làng biết có chuyện chẳng lành nên ban ngày thì các cụ bô lão ngồi trong đình làng họp bàn cách giải quyết, cứ đến sẩm tối là lùa gà chó vào chuồng, cài then khóa cổng không lai vãng ra ngoài. Trước đây thì nhà này qua nhà kia ngồi chơi chè nước đến đêm mới về, trẻ con thì tụ tập chơi đuổi bắt trên đường làng,… náo nhiệt đông vui vô cùng. Còn giờ thì cả làng quê im lìm như ngôi làng chết, bọn chó trong làng thì cứ đến tối là cụp đuôi chui vào trong gầm giường ư ử cả đêm, trẻ con cũng sợ đến mức không dám khóc. Nhưng nếu chỉ có vậy thì chẳng có gì đáng nói, chỉ có điều là 2 tháng sau thì gà vịt trong làng cứ mất dần, mỗi đêm lại mất vài con, có nhà còn bị mất cả con trâu, mà sáng hôm sau ra xem chuồng gà chuồng trâu thì chẳng có dấu vết gì, vẫn cửa khóa, chằng xích y như đêm hôm trước. Dân làng đó nghi là có trộm nên đổ xô đi lùng, đến một hôm thì có người báo là thấy có dấu máu đi vào trong núi. Thế là kẻ cuốc người gậy kéo vào trong núi xem đứa nào mà táo tợn đến thế. Nhưng đi vào đến quả núi phía trong thì cả làng mấy trăm người cùng đứng sững lại vì trước mặt họ là một đống xác gà vịt, trâu bò đang phân hủy, xác chất cao như núi, hôi thối nồng nặc. Thế là chẳng ai bảo ai, cắm đầu cắm cổ chạy về làng. Về đến sân đình làng thì mọi người mới bắt đầu xì xào bàn tán xem thứ gì mà lại gây ra chuyện như vậy. Người thì bảo tại ma quỷ, kẻ thì đổ tại làng có đứa ăn ở thất đức nên thánh thần giáng tội cả làng, bây giờ mới chỉ là trâu bò, sợ sau này đến cả người cũng chết. 

    Đến một tuần sau thì chuyện không còn ở trong phạm vi làng ngoại nữa, đến cả làng Đông, làng Nam, làng Bắc đều có trâu bò gà vịt chêt hàng loạt. Lúc này thì mọi người mới hoảng loạng lên, đi khắp nơi mời thầy này cô nọ về cũng bái trấn yểm, hao tốn bao nhiêu tiền của mà mèo vẫn hoàn mèo. Nghe tin bên làng em có mấy ông học thành tài phép của người Tàu nhưng mấy ông lại chẳng có tiếng tăm gì nên người các làng kia cũng nghi ngại, không mời từ đầu. Còn nước còn tát nên họ cử ngay mấy cụ bô lão trong làng sang bên làng em xin mấy ông kia cứu giúp, hứa sẽ hậu tạ đầy đủ. Mấy ông thầy già nhiều tuổi thì tỏ vẻ ái ngại nên khéo léo từ chôi, còn 2 ông thầy trẻ mới học xong thì hăng hái đi ngay, mừng như bắt được vàng vì lần đầu tiên được thử tài học của mình. Nhưng sau khi đi xem qua địa thế các làng kia và vào tận trong quả núi có đống xác trâu bò xem tình hình thì 2 ông này mới thấy sợ. Nhưng lỡ nhận lời rồi ma không giúp thì lại trái với lời thệ lúc bái sư nên hai ông đành phải làm. Ba ngày sau, hai ông cũng dân làng lập đàn từ lúc sáng sớm. Bày ra đủ thứ trận đồ, cờ phướn, mỗi ông mặc một đạo bào cánh hạc, một trắng một đen, tay cầm kiếm gỗ, vừa bắt quyết vừa lầm nhẩm đọc chú pháp. Sau khi cúng tế xong thì một thời gian dài không thấy mấy làng kia bị chết gia súc gia cầm gì nữa, tiếng động ban đêm cũng hết, cuộc sống lại trở về bình thường. Nhưng bên làng em thì bắt đầu có biến…..

    Chuyện thứ ba: Thầy phù thủy (tiếp)

    Sau cái đợt hai ông thầy kia đi giúp lang bên cạnh trừ tà thì mấy ông thầy làng em bắt đầu nổi tiếng, người ở nơi khác kéo đến rất đông. Nhà thì xin giải hạn, nhà thì xin xem chuyện tình duyên, nhà thì nhờ tìm một tổ bị mất,…. Nhưng chủ yếu là hai ông thầy kia nhận, còn những ông khác thì đều tìm cách từ chối, rất ít người xin được. Chẳng mấy chốc mà hai ông thầy kia giàu lên trông thấy, chỉ sau có 2 tháng mà nhà mỗi ông dựng lên một cái điện to bằng cả chục gian nhà thường. Dân làng xì xào bàn tán không hiểu sao chỉ với một tháng ngắn ngủi mà hai lão lại xây nhanh đến thế, có lắm tiền thì thợ cũng chỉ làm có giới hạn thôi chứ sao lại nhanh như vậy được, có người còn bảo là do hai lão chờ đến khi đêm xuống rồi sai âm binh xây hộ.

    Đang yên bình như vậy, nhà hai lão giàu thì càng ngày giàu lên, người làng em cũng được hưởng sái vì tiền bán vàng hương, đồ ăn thức uống cho khách thập phương, và đặc biệt là bọn trẻ con thì lại xôi oản ăn không hết, bánh trái ê hề. Thế rồi đùng một cái, hai lão treo cổ tự tự ở cây gạo cuối làng, nhà cửa cháy rụi không còn một tý gì. Sáng hôm hai lão treo cổ, mấy ông thầy pháp còn lại trong làng đều cùng vơi người làng đỡ hai cái xác ấy xuống rồi làm lễ siêu độ. Đang làm lễ thì tự nhiên bát hương bốc cháy đùng đùng, lửa xanh lè như ma trơi, bài vị, nhang đèn cúng cho hai lão kia đều đổ dúi dụi. Sáu ông thầy còn lại vội bảo mọi người ổn định, rồi mỗi ông bắt quyết một kiểu, đứng theo phương vị lục đạo mà niệm chú. Mọi người thấy kì dị, đang bàn tán nhau thì bỗng nhiên, mây dông vần vũ, gió thổi cát bụi mù mịt, cả làng hoảng lên, thi nhau lạy xin ông trời đừng giáng họa. Bất ngờ, một tia sét đánh thẳng xuống hai cái quan tài, quan tài bốc cháy phừng phừng, xương cốt bên trong cũng cháy theo. Người làng liền lao vào lấy cành cây, nước, cát định dập lửa nhưng mấy ông thầy kia cản lại, bảo hắt nước vào bây giờ là hỏng hết, thôi thì trời tính sao mình theo vậy là hơn. Một lúc sau thì lửa tắt, nhưng không hiểu cháy kiểu gì mà không còn phân biệt được đâu là tro cốt đâu là tro than. Dân làng ngẫm lại hai lão này trước nay chưa từng làm gì ác, tuy lúc giàu lên có hách dịch với bà con lối xóm, cớ sao lại nên nông nỗi này. Lúc này ông T, người cao tuổi nhất trong sáu thầy bước ra nói: 

    - Hai ông này trước đây giúp người mấy làng nọ trừ ma quỷ, nhưng lại không biết lượng sức mình, động vào cả ma quỷ chết trận từ đời Trần, Hồ đến bây giờ, nên bị chúng nó bào thù. Nhưng đấy mới chỉ là một tội, còn tội nữa là dùng nghề phù thủy để đổi lấy giàu sang, buôn thần bán thánh đổi lấy tiền tài, danh vọng, phạm vào lời thệ lúc bái sư nên giờ bị trời phạt chết không toàn thây, chẳng được mồ yên mả đẹp!

    Sau vụ đó, tưởng mọi chuyện chẳng có gì nữa, người dân quê lại trở về với công việc đồng áng, buôn bán như cũ, khách đến làng em cũng ít dần. Thế rồi, vào tháng 7, năm năm sau thì mọi chuyện mới thức sự bắt đầu. Đầu tiên là vụ ông em và mấy người bạn học thấy ma ở nhà ông tú, chuyện chỉ đơn giản có vậy nên cũng chẳng ai chú tâm lắm.Bẵng đi một thời gian tưởng không có gì thì bất ngờ, vào đúng ngày mùng sáu tháng tư năm sau, tự nhiên gà chó trong làng chết sạch, không còn lấy một con, người làng xót của, khóc lên khóc xuống. TRí thức trong làng thì nghĩ là dịch bệnh nên gọi bác sĩ người Liên Xô trên tỉnh về xem, nhưng không tìm ra được bệnh gì. Thế rồi ,mùng sáu tháng sau, ông H., nhà bán rượu ở cuối làng đang khỏe mạnh bình thường, ngồi nhậu với mấy anh em thì tự nhiên cười khanh khách, mắt trắng dã rồi lăn ra chết. Người làng kinh lắm, nhưng cho là trúng gió nên không để tâm gì nhiều thì mùng sáu tháng tiếp theo, rồi mười sáu, hai sáu trong tháng. Cứ đến ngày đó là tự nhiên trong làng lại có người chết bất đắc kì tử, mà toàn chết vào lúc giữ trưa với lúc nửa đêm. Giờ thì dân làng hoảng loạn thực sự, đến ngay cả nhà ông B, một trong sáu ông thầy trong làng cũng có người chết. Cả sáu ông cùng bắt tay vào lập đàn, quyết tìm cách giải hạn cho làng. Kén ngày mùng một tháng sau, người làng chuẩn bị từ trước, đắp đất lập một cài đàn cao 2 mét, rộng chừng năm mươi mét vuông. Sáu ông bảo dân làng về lấy máu chó đen vẩy trước cửa nhà rồi đàn bà con gái với trẻ con thì ở yên trong nhà, chỉ để sáu ông với đàn ông tuổi Dần, Thìn, Dậu, Tuất ở lại trông đàn. Đêm hôm đó không trăng, đàn ông đốt đuốc đứng theo đúng vị trí mà các thầy phân công, không được nói chuyện, cười đùa, không được ăn mặn trong ngày. Cái đàn tế được bày thêm đủ loại trận đồ, phướn xanh phướn đỏ, lục đinh lục giáp, tinh đồ, binh khí, nhìn rất oai nghiêm, bí hiểm. Đến đúng 10 giờ tối, cả sau ông thầy cùng lên đàn một lượt, ông T là người uyên thâm, giỏi phép nhất nên đứng làm chủ tế, năm ông còn lại chia nhau đứng theo ngũ hành, ông nào ông nầy đều mặc đạo bào tía, một tay cầm kiếm gỗ đào, một tay bắt quyết chỉ thẳng vào người ông T. Khi cả sáu ông bắt đầu làm phép thì trời dần dần nổi gió, từ trong núi Chà Ma, tiếng khóc, tiếng cười khe khé cứ ngày một đến gần, người gác đàn lắm anh sợ muốn vỡ mật. Một lúc sau thì gió cứ như bị hút vào cái chum đất đặt trên đàn tế, đến khi gió gần ngưng thì tự nhiên ông B và ông D ngã lăn ra đất, cả đám đứng đó đều hoảng. Ông T vội hét to bảo tất cả đứng yên không rời vị trí, rồi ông lao ra, bịt miệng chum, lấy bùa dán đè lên miệng. Xong xuôi rồi ông vội vàng vứt cả kiếm, chạy lại chỗ ông B và ông D, tất cả đổ xô vào xem thì thấy hai người đã lịm đi, ông T và ông S mỗi đỡ lấy đầu hai ông, bấm vào nhân trung cho tỉnh lại. Vừa tỉnh lại thì hai ông trào cả máu mũi máu mồm ra, hai ông cố vớt vát mấy câu cuối, ý bảo dân làng thay hai ông lo cho mấy đứa con, bảo chúng nó sau này đừng theo nghề bố, còn xác hai ông thì giao cho ông T đem đi yểm. Lúc này thì ông S là anh ruột ông B, thấy em chết thì khóc rống lên rồi cười hềnh hệch như điên như dại rồi chạy thẳng ra bờ sông, mấy anh thanh niên khỏe mạnh đuổi theo giũ ông lại thì bị ông ưỡn người, lắc cho vài cài, 4 anh thanh niên bị bắn ra xa nằm ngất lịm, còn 2 anh lồm cồm bò dậy đuổi theo ông thì không tài nào kịp, ông S nhảy ùm xuống sông rồi mất tăm, không thấy gì, 2 anh vội nhảy xuống vớt thì chẳng thấy đâu, liền lao lên bờ hô làng cho thêm người ra cứu. 

    Nhưng vừa lên bờ thì cả hai thấy sống lưng lạnh toát, hai người từ từ nhìn ra sau, ngay lập tức cả hai cung hét lên kinh hoàng. Cái mà họ đang thấy là ông S đang đứng trên một tấm vãn chỉ rộng bằng tờ giấy bản mà ông không chìm, còn cái người ông thì xoay tít trên cái ván y như chong chóng, ông S tự nhiên cười the thé, từ xa mà tiếng vang ý như ngay bên cạnh. Dân làng bấy giờ đổ xô ra thì thấy cảnh tượng kì dị này, mặt ai nấy cắt không còn giọt máu , vội vàng cho hơn chục người bơi giỏi rồi cuộc dây vào người, bơi ra cứu ông S. Cứu được ông S vào bờ rồi thì ống lại giãy đành đành như cá, mắt trắng dã, miệng hét lanh lảnh: "Thả tao ra! Thả tao ra!" rồi bất chợt, mắt ông lại đỏ rực lên như hòn lửa, giọng ồm ồm, gầm ghè: "Chúng mày lấy hai cái xác cho kia để yểm được bây giờ chứ yểm được mãi hả! Để tao cho chúng mày yểm nhớ? Yểm này! Yểm này! Yểm này!" Cứ mỗi tiếng "yểm này" người ông S lại giật lên, máu mũi máu mồm trào ra như hai ông kia, ai vào ghìm lại cũng không được. Một lúc sau thì ông T và ông C chạy đến, hai ông vội bắt quyết, ấn lên trán ông S. Nhưng tay vừa chạm vào ông S thì cả hai ông bắn ra như chạm phải điện, ngất ngay tại chỗ. Mọi người vội võng ông T và ông C về đình làng rồi xức dầu, xoa bóp cho hai ông tỉnh lại. Vài tiếng sau thì hai ông tỉnh lại, ông này nhìn ông kia rồi thở dài thườn thượt, ông C lẩm bẩm:" Một đêm mà mất ba người! Ba người! Ba người!" Tất cả xúm vào hỏi hai ông chuyện gì đã xảy ra. Ông T bảo: 

    -Hôm nay bọn tôi tính nhốt hết oán hồn, ma quỷ lại rồi phong kín không cho gây họa đến đời sau. Nhưng bất ngờ ông B và ông D lại bị vậy nên để xổng mất bốn cái oán linh! Hai ông chắc thấy có lỗi lắm nên bảo để thi hài lại cho tôi đem đi trấn yểm cho làng. Nhưng mà chỉ yểm được trong vòng 25 năm thôi vì mấy cái oán linh này mạnh lắm, còn thành hoàng làng thì đang chịu phạt nên không làm gì được chúng nó. Tôi đang tính là trong 25 năm đó làng mình sẽ đi tìm một người đủ giỏi để trấn áp nó. Còn số tôi già yếu sống nay chết mai, không biết sao mà lần!- Nói đoạn, ông T lại thở dài sườn sượt,ông C nhìn ông cũng thấy buồn.

    Người làng nghe vậy thì dựng cả tóc gáy, nhưng vẫn yên tâm phần nào vì còn được 25 năm không bị quấy phá. Có gì thì 25 năm này vẫn còn nhiều thời gian để tìm thầy này thầy kia.
    Nhưng thực sự thì 25 năm đó không hề yên ổn như mọi người mong đợi, vẫn tiếp tục có những đợt sóng ngầm 

    Chuyện thứ tư: Chân nhân bất lộ tướng

    Như đã nói trong chuyện trước, làng em có một thời hạn là 25 năm không bị mấy cái oán linh kia phá. Nhưng trong ông T dù giỏi cũng không chỉ đủ sức trấn yểm mấy cái oán linh bị xổng mất kia thôi, hơn nữa thành hoàng làng lại đang chịu phạt nên bây giờ, cửa âm của làng em gần như bỏ trống. Nói là gần như vì đã có hồn của hai ông B và D giữ cho làng khỏi mấy cái ác linh rồi, nhưng còn những loại ma quỷ khác vẫn có thể vào được mà không bị cản bởi hai ông. 

    Cũng may sao là cụ tổ họ nhà em lại có tướng Bạch Hổ Trấn Sơn, sánh ngang với Trung Đẳng thần, tuy vậy thì cụ cũng chỉ có quyền hạn bảo vệ cho con cháu trong nhà, còn người ngoài thì thuộc quyền của thành hoàng, thổ địa, vậy nên trong 25 năm đó, họ nhà em vẫn yên ổn làm ăn, còn người làng thì….
    Kể sơ qua về cụ tổ họ nhà em chút: Cụ sống vào thời phù Lê diệt Mạc, là tướng tài của vua Lê, lại có công cùng hai đời chúa Trịnh đánh đuổi nhà Mạc chạy lên Cao Bằng. Sau khi hết nạn can qua, vua Lê ghi công cụ em vào hàng công thần, lại gả công chúa cho cụ, phong cụ làm phò mã. Cụ tổ vì cảm cái ơn của vua nên dốc lòng thờ vua nên lúc nào cụ nhà em lúc nào cũng chỉ mong diệt được họ Trịnh, đem lại ngôi chính thiên cho nhà Lê. Cũng vì lẽ đó mà không ít lần cụ bị gia hại, nhưng đều may mắn thoát được. Qua bao tranh đấu chốn quan trường hiểm ác mà vẫn không xoay vần được thời cục, ngán ngẩm chuyện thế sự, quan quyền nên cụ cáo quan về ở ẩn, chỉ lo vui thú điền viên. Sau khi cụ mất, nhờ cụ vốn có phúc tướng, lại có mệnh là tướng tinh nên mất rồi lại được phong thần, đạo lại cao hơn cả thổ địa, thành hoàng, đứng ngang với hàng Trung Đẳng Thần.
    Nhờ có uy của tổ mà sau bao nhiêu năm, họ nhà em lúc nào thế cũng vững như thành đồng, chưa hề có chuyện quỷ mị xảy ra.


    -------------------------------------------

    Khoe với các thím chút về dòng dõi quý tộc của mình vậy là đủ, giờ thì sau khi trà nước chán chê, em xin bắt đầu vào câu chuyện chính.

    Trở lại với cái kỳ hạn nọ, đã 20 năm trôi qua mà chưa có chuyện gì to tát lắm xảy ra, người nhìn thấy ma quỷ. Bị ma trêu thì nhiều lắm, cơ mà chẳng có gì hại đến người. Qua 20 năm yên ổn, giờ thì ông T đã mất được vài năm, những thầy phù thủy cũng thời cũng đều đã khuất núi lâu. Giờ thì ở quê em lại có một lớp thầy pháp mới, tuy không cao tay bằng lớp trước nhưng cũng được xếp vào hàng giỏi, lớp thầy này gồm có 3 ông là thầy L, thầy A và thầy N. Ba ông này thì có hai ông A và N là tuân thủ rất nghiêm lời thệ, ai bảo giúp gì thì xét khả năng mình đủ không rồi mới nhận lời, còn gia chủ thí cho bao nhiêu thì nhận bấy nhiêu, nhà nào nghèo thì không lấy tiền mà còn giúp thêm gạo, muối. Duy chỉ có ông thầy L là tàn tệ nhất trong số những thầy pháp từng ở làng em. Ông này ham tiền hơn mạng sống, ai đến xin giai hạn hay xem nhà cũng đều phải có chút gì đó gọi là quà gặp mặt. Lao này lại còn phạm vào rất nhiều điều đại kị như nữ sắc, một mình ông mà lấy tới 5 vợ, lại còn phạm vào tội bất hiếu, rõ ràng nhà giàu nứt đố đổ vách nhưng toàn để mẹ già ăn gạo xấu, rau lạt dưới bếp,còn nhà mình thì ăn thịt, chả, tôm, cá, toàn là cao lương mĩ vị. Người làng ai cũng ghét lão này, lắm người bảo, lão đã giẫm vào vết xe đổ của người trước thì chẳng mấy mà đi, có khi còn nặng hơn. Tuy độc ác như vậy nhưng tài phép của lão lại cao hơn hẳn hai ông thầy kia một bực. Đó là do lão luyện chỉ thuần bùa chú Nam tông, lại luyện nhiều loại như bùa Xiêm La, bùa Vân Nam, bùa Chà Và,…

    Còn hai ông N và A thì vốn dĩ tư chất đã không được như các thầy lớp trước, lại không gặp được sư phụ giỏi, chủ yếu là dựa vào cần cù, chăm chỉ mà luyện thành tài vậy. Thế rồi chuyện gì đến cũng phải đến, một đêm nọ, lão L vừa đi cúng đám pháp sự suốt hai ngày ở làng bên về thì bị một tia sét đánh trúng ngay sau lưng, chỉ cách lão có vài bước. Lão kinh hoàng chạy một mạch về nhà, vừa vào đến sảnh lớn thì lão rú lên kinh hãi. Người làng thấy có động liền đổ xô đến xem, đập vào mắt họ là một cảnh tượng rợn người: Trên xà ngang cả năm bà vợ tuổi mới đôi mươi của lão đều treo cổ chết, tóc người nào người nấy đều đã bạc trắng. Như một con thú điên, lão L vùng lên, lao vào nhà trong, vừa chạy vừa gào: Ối con ới! Con ới! Hai con đâu rồi ra đây con ới!" Một vài người chạy theo lão, tìm khắp nhà không thấy hai đứa bé đâu, chỉ thấy mỗi bà cụ mẹ lão L đã chết từ bao giờ, xác đã lạnh. Tìm khắp nơi không thấy đâu, mà nhà thì rộng đến hơn mẫu, tòa ngang dãy dọc nhiều vô số, một người thấy khát nước liền mở vại nước sát ủ ra định uống vài gáo cho đỡ, nhưng vừa mở nắp ra thì người này hét lên kinh hãi rồi ngất lịm. Mấy người đứng gần liền đổ xô đến cứu chữa, có vài người nhòm vào chum nước xem thì chao ôi! Hai đứa bé đã chết ngạt từ bao giờ rồi, xác đã trương phềnh lên. Lão L nhìn thấy nhà cửa vợ con như vậy thì ngồi phịch xuống cái ghế bố ở giữa sảnh, mắt nhìn vô hồn về phía trước, người làng ai cũng ghét lão nhưng mà thấy thế thì cũng ai ngại nhìn. Lúc này thì ông N và ông A bước ra, họ vì cái nghĩa đồng nghề, hơn nữa không thể thấy chết mà không cứu nên hết ông này đến ông kia bắt quyết rồi điểm vào trán và gáy lão L. Nhưng không hiểu so người lão cứ như cái bị bông, chẳng có phản ứng gì, ông A liền lấy trong bọc áo ra một miếng hương vào vàng, đốt lên rồi hươ hươ trước mũi xem lão có phản ứng lại không, lão L vẫn ngồi thẫn thờ, bất động. Hai ông thầy kia nhìn nhau rồi lại nhìn dân làng, ông N chỉ nói đúng hai câu: " Bất hiếu với mẹ, vi phạm lời thệ. Trời phạt quỷ hành, một xác nhiều hồn, sống không bằng chết!" Xong rồi hai ông chẳng nói chẳng rằng, cứ thế đội mưa đi về. Đêm hôm sau, cả vùng quê lại náo động lên vì ánh lửa phát ra từ phía nhà lão L, lúc dân làng chạy đến thì thấy lão L tay cầm bó đuốc đang châm lửa đốt nhà, lão cứ vừa đốt vừa cười ha há, thỉnh thoảng lại rú lên một tràng dài, trai tráng đổ xô vào cứu hỏa mà không tài nào dập được, có cảm giác như càng hắt nước vào thì lửa càng cháy to hơn. Thế là đêm đó tất cả đều không ngủ, đứng nhìn tòa nhà rộng hơn mẫu đang cháy rừng rực trong đêm, lửa sáng cả một góc trời. Đến trưa hôm sau thì lửa tắt, mọi người vào tìm thì chẳng thấy lão L chạy đâu, có người nói lão chạy ra ngoài từ đêm hôm qua, chỉ bật một cái mà qua luôn bức tường cao 3 mét, ai thấy cũng khiếp nên chẳng dám đuổi theo. Sáng sớm ba ngày sau, dân làng lại không tài nào ngủ được vì tiếng huyên náo phát ra từ cuối làng, mọi người tất tả mặc áo chạy ra, ai vừa đến cũng sợ đến xanh mặt. Lão L đang đứng trên một cành cây gạo, cái cây gạo mà trước đây hai lão thầy kia từng treo cổ. Lão L đứng trên đó, mái tóc của lão chỉ mới trải qua một đêm mà đã dài tới gót chân, bạc trắng như cước, tay lão vung vẩy cái liềm, vừa vung vừa hát í a, mồm thì lại cười ngoác đến mang tai, ai nhìn cũng khiếp. Dân làng liền kéo nhau đi lấy vải bạt để hứng, ngộ nhỡ lão có rơi xuống thì đỡ. Nhưng vừa quay lưng di thì có lão L gọi giật lại, giọng thé thé như xe vải: " Tao cấm! Tao cấm! Đứa nào dám hứng thằng này thì tao về tận nhà tao vặn ngược cổ từ trước ra sau! Hớ Hớ Hớ! Tao cấm! Tao cấm!" . Vừa hét lão vừa nhảy tưng tưng trên cành cây, ngay lúc này thì ông N với ông A đã chạy về nhà lấy đồ xong, mỗi ông cầm một cây kiếm gỗ ném thẳng về phía cây gạo, nhưng hai cây kiếm gỗ vừa chạm vào gốc gạo thì tự nhiên rơi luôn xuống đất như hai khúc củi rồi lần lượt gãy đôi. Hai ông sợ xanh mắt mèo, nhìn nhau không nói được câu nào. Bỗng nhiên, một người mà không ai ngờ tới lại bước ra, đó là ông K. làm nghề cắt tóc ở xóm dưới.

    Mọi người thấy ông cứ đủng đỉnh đi vào thì cản lại, bảo ông mà vào là nó vật chết ngay đấy, ông K chỉ cười không đáp, rồi lại tiến về gốc cây gạo. Mọi người ai cũng sợ nên không dám theo giữ chân, tất cả đứng từ đằng xa xem ông K đinh làm gì. Ông K cứ thế tiến ngày một gần tới gốc gạo, con quỷ- lúc này đnag nhập vào lão L thì cứ chỉ thẳng ông K mà mắng chửi, quát tháo. Ông nhẹ nhàng rút trong túi đồ ra một cây gậy vông dài bằng cánh tay, lúc này thì con quỷ đã bắt đầu im rồi, nó nhìn ông gờm gờm, mắt long sòng sọc. Thế rồi ông nhẹ bứt một sợi tóc trên đầu, quấn vào cây gậy rồi lầm rầm đọc gì đó. Giờ thì con quỷ mới lộ ra là nó đang sợ ông K, nó bắt đầu khóc lóc nỉ non, van vỉ đủ điều xin ông cho nó một con đường sống, tiếng khóc, van nài như vọng về từ một cõi xa thẳm, bao nhiêu người cũng đứng đó mà ai cũng thấy lạnh toát sống lưng. Ông K chẳng nói chẳng rằng, lại gần cây gạo, cầm gậy vông vụt liền bảy phát vào gốc, từ cây gạo, người ta nghe thấy tiếng hét thất thánh rồi tiếng la oai oái, mấy chỗ bị vụt trên gốc gạo cứ có một dòng nước đỏ ộc như máu, chảy ri rỉ ra. Vụt xong phát thứ bảy thì lão L trên cành đứng thẳng tưng người một cái, rồi đổ ra, rơi uỵch xuống đất, lão chết ngay tại chỗ. Sau đấy thì ông K lẳng lặng đi về, không nói thêm câu nào. Còn hai ông A và ông N mới đầu thì nhìn ông K một cách kinh ngạc , nhưng khi vừa thấy những việc ông làm và thấy hình săm trên cổ tay ông thì cả hai cùng kính cẩn đặt tay phải lên ngực, cúi người đứng nép sang một bên nhường đường cho ông K.

    Vậy rốt cuộc thì ông K là ai mà lại cao tay ấn đến vậy, và hình săm trên tay ông có ý nghĩa gì mà khiến hai ông thầy kia phải kính cẩn như thế? Mọi chuyện chỉ có bố em và hai ông thầy kia biết, còn quá khứ của ông K thì đó là cả một câu chuyện dài về tình yêu, gia tộc, máu và nước mắt

    Chuyện thứ năm: Quá khứ của một người vô danh

    Mải type mãi không để ý thời gian, em đi ăn cơm chút xíu xong lại nhào về ngay để kể tiếp cho các thím yêu vấu

    Ông K vốn gốc là người Tàu, nhưng ông quê ở tỉnh nào bên đó thì cả làng chẳng ai biết, chỉ biết rằng ông đến làng từ năm 50, năm năm sau khi cái kì hạn kia bắt đầu. Là người nước khác nhưng ông K lại nói tiếng Việt rất sõi, lại còn nói được cả tiếng Pháp, tiếng Nhật, tiếng Hà Lan, tiếng Anh nên dân làng ai cũng ngưỡng mộ ông vì cái vốn chữ. Tuy giỏi nhiều ngoại ngữ như vậy, lại rất nhiều lần có cán bộ về mời ông đi làm phiên dịch, lương tháng mấy trăm đồng bạc, là cả một giấc mơ xa vời với nhiều người thời bấy giờ. Nhưng ông khước từ tất cả, chỉ ở lại miền quê nghèo này làm nghề cắt tóc, đắp đổi qua ngày, khắp cả tỉnh, người mời ông đến cắt tóc rất đông, nhưng cắt tóc chỉ là cái phụ mà cái chính là họ muốn có một người uyên thâm, hiểu thời thế để nói chuyện, và những người mời ông đến nhà cắt tóc đều là những con người không " tầm thường". Dân quê ngày đó thấy ông ngày ngày vẫn cứ đạp cái xe đạp lọc cọc đi cắt tóc khắp nơi thay vì nhận làm việc bàn giấy, sống đủ đầy cả đời thì ai cũng cho là lạ, nhưng họ không thể hiểu tại sao lại thế, thôi thì cho rằng đó là cái tính kì dị của những người "học giỏi:", mà dân làng còn ngạc nhiên khi thấy một ông lão cắt tóc nghèo mà lúc nào nào cũng có thịt cá ăn luôn, lại toàn quen thân với mấy ông "tai to", có lúc thấy cả một đoàn xe của tướng Trung Quốc về tận làng để thỉnh an ông K, ông tướng người Trung Quốc nọ hách dịch vô cùng quát mắng lính lác xa xả. Nhưng khi gần đến nhà ông K thì ông tướng trẻ kia liền xuống xe, lội bộ gần cây số đất đỏ nhão nhoét chỉ để lên nhà ông K, đến lúc lên rồi thì ông K chỉ thẳng mắng mà mắng một tràng toàn tiếng tây tiếng tàu, ông kia sợ tái cả mắt, cứ quỳ rạp xuống đất bùn mà nghe ông K mắng, lúc ông K mắng xong thì phất tay ào vào thẳng nhà, khóa của lại. Chỉ còn mình ông tướng ở ngoài, ông tướng còn quỳ lạy thêm chín lạy nữa rồi vừa khóc vừa giật lùi mà đi về. Người làng ai trông thấy cũng khiếp, lại càng tò mò về lai lịch của ông K, nhiều người gặng hỏi nhưng ông đều tìm cách tránh nói đến, lâu dần thì dân làng biết ý ông không muốn gợi lại chuyện cũ nên cũng chẳng hỏi nữa.

    Người biết về quá khứ của ông K chỉ có vài người, trong đó có bố em. Thuở nhỏ, bố em rất thích đọc sách cổ của Trung Quốc, cuốn nào có chữ quốc ngữ dịch ra thì đọc, còn cuốn nào viết bằng chữ Tàu thì đem về nhờ cụ dịch cho nghe. Bố em lại rất thích sang chơi bên nhà ông K vì nhà ông ở trên một quả đồi cao sau xóm, lại không nuôi trâu bò lợn gà gì nên rất sạch sẽ, tuyệt không có ruồi muỗi. Ông K thấy bố em nhỏ nhỏ mà lại thích đọc sách nên quý bố em lắm, mỗi lần đi lên tỉnh cắt tóc là lại tìm mua sách truyện của Nguyên Hồng về cho bố em đọc, ông lại còn rất hợp tính với bố, tính lại hiền lành dễ gần, toàn gọi bố em là chú, xưng anh, mặc dù ông còn già hơn ông nội em cả chục tuổi. Ông K và bố em thân với nhau như bạn vong niên vậy, có chuyện gì ấm ức bố em cũng kể cho ông K nghe, còn ông K thì rất cởi mở với bố em, nhờ vậy mà bố em cũng biết được nhiều điều về quá khứ của ông, một quá khứ chẳng hề bình lặng như con người hiền lành của ông. Một tối, bố em vừa đi câu về, bố câu được khá là nhiều cá, trong đó có một con chép đỏ , bố định đem con này lên cho ông K, còn mấy con khác thì quẳng vào bể nước để bà nội về làm mắm. Tối hôm đó, bố em xách con cá lên nhà ông K thì thấy ông đang bắc bếp nướng ngô, vừa thấy bố em lên thì ông vui hẳn, hồ hợi gọi bố em vào ngồi chung chờ ngô chín thì anh em gặm cho đã. Nhưng vừa thấy con cá chép bố em xách trên tay thì ông K xám mặt lại, ông vội giật ngay khỏi tay bố em rồi ném thẳng vào lò than, rồi lật đật chạy vào nhà trong, đem ra một đạo bùa màu vàng ném luôn vào lửa, kì dị làm sao khi con cá chép đỏ đã chết từ hồi chiều giờ lại nhảy lên tanh tách trong lò, phát ra nhưng tiếng kêu rít đến buốt óc. Ông K liền bịt tai bố em lại rồi hô một tràng toàn tiếng Miên, ngay lập tức con cá ngừng nhảy rồi cháy thành than ngay lập tức. Bố em chưa hiểu chuyện gì xảy ra liền hỏi ông K sao phải làm vậy, ông K chậm rãi trả lời :

    -Con cá này là một trong năm cái oán linh xổng mất trong cái năm mà sau ông thầy làng chú làm phép đó. Bây giờ kì hạn đã hết, mà chú lại hợp vía với nó nên nó định hút hồn chú, nhưng mà cụ tổ nhà chú pháp lực cao cường, trấn giữ cho người trong họ rất nghiêm cẩn nên nó không làm gì được. Đêm nay lại là đêm tà nguyệt tụ hội, ma quỷ đắc lợi mà cụ tổ nhà chú lại đến kỳ vào chầu thánh đế nên nó mới chớp cơ hội, giả làm con chép đỏ kia để đêm nay dụ chú ra hồ rồi dìm chết đấy! Nhưng mà số chú còn dài nên trời xui đất khiến thế nào lại để chú mang nó lên chỗ tôi, giờ tôi diêtj được nó rồi nên không lo gì nữa, chỉ ngại mấy cái oán lình kia nó thoăt ẩn thoắt hiện, tôi không biết đâu mà lần nên chưa trừ được.

    Bố em nghe xong thì sợ lắm, nhưng ông K trấn an bảo thế là xong rồi, từ rày họ nhà em không sao nữa thì bố em mới bớt sọ. Lúc bình tĩnh lại, bố em mới hỏi sao ông K lại biết phép phù thủy giỏi đến vậy. Sau một hồi trầm ngâm, ông K từ từ kể lại câu chuyện đời mình cho bố em nghe:

    "….Trước đây, ông K vốn là dòng dõi danh gia thế phiệt ở bên Tàu, đời đời nối nhau làm nghề phù thủy, lại buôn bán cả ngọc quý, đồ gốm nên giàu có vô cùng. Tiền từ nghề phù thủy và buôn bán đem lại không biết bao nhiêu mà kể. Nhưng họ nhà ông không giữ cho riêng mình, năm nào cũng đem tiền, gạo đi cứu tế dân lũ lụt ở Hoàng Hà, Trường Giang nên được lòng người dân lắm, đi đâu dân cũng bái vọng, lập bàn thờ sống. Thế rồi, cuối đời nhà Thanh, triều đình vu cho họ nhà ông tội dung yêu pháp mê hoặc dân chúng, có ý phản lại triều đình. Chỉ trong một đêm, già trẻ lớn bé hơn 3000 mạng trong họ nhà ông bị giết sạch, còn duy nhất chi họ nhà ông ở trên Thiểm Tây là thoát nạn. Vậy nên ngay từ khi sinh ra, ông K đã bị nhồi vào đầu ý chí phục thù, tìm con cháu của những quan lại ngày xưa đã vu khống họ nhà ông và con cháu dòng họ Ái Tân Giác La để giết hết không chừa ai. Và ông K đúng thực là niềm hi vọng của cả chi họ, từ bé ông đã bộc lộ trí thông minh siêu việt, cái gi cũng chỉ xem qua một lần là nhớ ngay. Chẳng mấy chốc mà ông K đã nổi tiếng tinh thông vô số loại bùa chú, ấn pháp, từ Nam tông Bắc tông đến cả bùa chú Mật tông, Tây Tạng, Mông Cổ, Cao Ly,…khi đó ông mới 19 tuổi. Nhưng thực sự thì ông lại không muốn trả thù chút nào vì ông cho rằng thù hận là thứ thế hệ trước gây ra, sao cứ phải để thế hệ sau như ông gánh chịu. 

    Chính vì lẽ đó mà ông bị cả họ hắt hủi, cha ông từ con, mẹ ông thì chỉ muốn treo cổ tự tử, ông bị trục xuất ra khỏi dòng họ. Thế là ông đi lang bạt khắp Trung Hoa từ năm 20 tuổi. Và ông đã gặp và yêu một người con gái, (một chuyên tình đẹp như trong phim phải không các thím), bất chấp gia đình cô Liên Liên kia ngăn cản, ông và cô vẫn làm đám cưới. Ngày ông làm dám cưới, người nhà bên kia thuê một thầy pháp về định làm phép cho ông sợ mà bỏ. Nhưng đúng là múa rìu qua mắt thợ, ông thầy pháp kia vừa làm phép định đánh ông thì ông cầm kiếm gỗ đánh bật lại, và thanh kiếm gỗ của ông lúc bay ra đã cắm thẳng vào cổ cô Liên Liên, trước lúc chết, cô vẫn nói là dù sao cô vẫn mãi yêu ông. Như một người điên dại, ông cứ ôm xác người yêu gào khóc, nhà kia thấy con gái chết thì không thèm đến xem sao mà còn nhổ bãi nước bọt, mắng cô là thứ gái lăng loàn bỏ nhà theo trai. Còn ông K lúc này thì đã bị hận thù che mắt, ông thi triển hết mọi thứ mình học được, từ gọi âm binh, thổ thần đến gọi ma quỷ lên giúp sức,…. Ông muốn cả nhà kia phải chết vì chính họ đã gây nên tất cả. Sáng sớm của một tuần sau, cả ngôi làng nhỏ vùng Cam Túc náo động lên bởi tin nhà họ Kha trong làng đã bị cướp giết sạch, treo xác lên rừng táo đầu làng. Những tưởng sau khi trả thù xong ông sẽ thanh thản, nhưng ông lại càng thêm dằn vặt, đau khổ, tự giận chính mình vì nếu mình không yêu Liên Liên thì mọi chuyện đâu có xảy ra. Và rồi ông bị chính quyền địa phương truy bắt vì tội dùng xảo thuật để giết người cướp của, ông lại trốn chạy tiếp. Vài năm sau, sự việc lắng xuống, ông K lại trở về cuộc đời lang bạt, kiếm sống bằng nghề phù thủy. Gần hai chục năm sau, Đảng Cộng Sản Trung Quốc tiến hành cách mạng văn hóa, những người như ông đều bị quy vào tội tuyên truyền mê tín dị đoan, không bị xử tử hình thì cũng bị giam chung thân nên rất nhiều người đã trốn sang Việt Nam, và ông K cũng là một trong số đó…."

    -----------------------------------------------------------

    Đó là quá khứ đầy bi thương của ông K, còn hình săm trên bàn tay ông, đó là biểu tượng của phù thủy hàng Thiên đẳng trong gia tộc họ Vương, người trong nghề phù thủy ai cũng biết cả. Vậy nên hai ông A và N mới kính cẩn với ông như vậy.

    Sau khi nghe xong câu chuyện bố em cũng bùi ngùi về số phận ông, cả hai người cùng lăng đi một lúc. Ông K lên tiếng phá tan sự im lặng : " Chú chờ tôi tý, tôi lấy cho chú cái này" Nói đoạn, ông đi vào nhà trong, rồi ông lấy ra hai quyển sách, một quyển đã ngả vàng một quyển xem chừng còn mới. Ông đưa cho bố em, bảo giở ra xem, bố em giở ra thì thấy trong mỗi quyển toàn là hình vẽ loằng ngoằng ngang dọc, nhưng một quyển thì viết bằng chữ Trung Quốc, còn một quyển mới thì viết bằng chữ quốc ngữ, trong đó ghi toàn là các câu khẩu quyết, chiến ý, cách làm bùa phép, xem tướng, đoán vận số,…. Bố em đọc xong thì mới hiểu ra đây là "cuốn sách giáo khoa" của thầy phù thủy. Sau đó thì ông K hỏi bố em nhớ được bao nhiêu, bố liền đọc lại cho ông nghe những chỗ mình nhớ, cả quyển thì bố nhớ được ba phần. Ông K nghe xong gật gù khen: "Vậy là chú giỏi! Người thường học quyển này phải mất hơn hai chục năm mới tinh thông. Nhưng tôi xem tướng chú không phải là người có duyên với nghề này, nói thật với chú, cái nghề này nó bạc lắm chú ạ, đời tôi khốn nạn cũng vì nó đó chứ!". Nhưng ông K vẫn dạy cho bố em cách xem tướng, cách coi chân gà, cách giải chết trùng, cách tính ngày giờ chết của một người đang bệnh nặng,… ông nói là để tiện đường giao thiệp về sau, tự khắc sẽ có ích. Sau đó, ông K bỗng nâng quyển sách cũ viết bằng tiếng Trung lên rồi bảo bố em:" Chú nhớ cái thằng tướng dởm lần trước đến tìm tôi chứ! Cái thằng đó trước là học trò của tôi đấy! Lúc còn học tôi, nó ngoan lắm, nhưng một hôm tôi về nhà thì bắt gặp nó đang ăn trộm quyển sách này, tôi liền đuổi theo giật lại được, nhưng mà nó thì chạy mất, lấy được phần ba quyển sách từ trang đầu….Nhờ có mấy trang sách đó mà nó dần dân leo lên cái ghế tư lệnh quân đoàn, nhưng số trời khó cái, nó đã dùng nghề này để cầu lấy tiền tài thì giờ tai họa đổ xuống đầu nó! Lần trước nó tìm về đây là muốn xin tôi cứu mạng, nhưng ai dám cãi lại mệnh trời? Nó làm thì nó chịu thôi!" - Ông K lại thở dài nhìn xa xăm ra ngoài phía cánh đồng, rồi ông vứt luôn hai quyển sách vào trong lò lửa, tất cả tài nghệ của ông đều sẽ theo ông xuống mồ hết.

    Thấy ông buồn nên bố em liền đổi chủ đề, làm cho không khí vui hơn. Thời đó, người sát mạn biên giới về đều đồn là ở Sơn Tây bên Tàu có phái biết thuật dẫn thi, có thể bảo quản xác chết từ chiến trường dẫn về quê quán( Cái nì là Cương Thi trong phim của Lâm Chánh Anh đấy các thím ợ!). Bố em liền đem chuyện này ra hỏi ông K thì ông cười ngặt nghẽo, ông bảo: 

    -Cái đó hồi tôi còn ở trong nước cũng nghe nhiều, nhưng chưa thấy hoặc biết ai có thể làm như vậy cả, có mấy lần nghe tiếng có người biết làm, tôi đều đến xem, hóa ra toàn là lũ bịp bợm. Còn phái Sơn Tây đó thì đúng là có thật, nhưng họ ít giao tiếp với người trong nghề, bùa chú của họ tôi cũng có biết chút ít, nó là loại bùa rất kì dị, là loại pha trộn giữa nhiều loại bùa chú với nhau, thuật dẫn xác thì tôi biết, đơn giản chỉ là dẫn một cái xác chết đi đi lai lại, sai nó nấu cơm quét nhà, chẻ củi gánh nước hay tát ao thì được chứ nói làm phép để bảo quản xác chết thì tôi không tin. Vì chỉ cần ngưng làm phép lên xác là nó rữa ra ngay lập tức, mà cái trò dẫn xác này tổn âm đức lắm, chỉ có mấy ông mới vào nghề, ngựa non háu đá thì làm để kiếm người phụ việc thôi



    Chuyện thứ sáu: Lươn cộ

    Cạnh làng em là một con sông dài, chảy thẳng ra biển, có chỗ thì thu hẹp lại chỉ rộng tầm trăm mét, có chỗ thì ăn sâu vào tận trong lòng những dãy núi rỗng ruột như quả bàu, rộng đến vài ba cây số. Ở cái khoảng sông chảy ngầm trong lòng núi đó, luôn là một điều gì đó bí ẩn với người dân quê em từ xưa cho đến tận bây giờ. Nhiều người nói rằng, ở dưới những khoảng ngầm đó là những hang hốc ăn sâu ra tận biển, là nơi trú ngụ của những con cá cụ đã vài chục tuổi, con nào con nấy to bằng cả cái thuyền nan, nó há mồm một cái thì nuốt trọn cả người lớn, dù hù dọa như vậy nhưng bọn trẻ con vẫn không tài nào bỏ được cái trò tắm sông.
    Đó là vào một buổi sáng mùa hè năm 70, như moi khi, bọn trẻ chăn trâu thả trâu lên triền núi cho gặm cỏ rồi nhảy ùm ùm xuống tắm, cái bãi tắm này mới được khám phá gần đây, lại gần với chỗ sông chảy ngầm nên nước mát lạnh , màu hè tắm thì cứ gọi là thích phải biết. Đang tắm thì một đứa ngồi trên bờ hét toáng lên rồi réo gọi cả đám lên, cả lũ thấy đứa bé này khóc thì chạy hết lên bờ, hỏi làm sao thì nó chỉ tay xuống nước, cả bon nhìn xuống rồi cùng khóc thét lên, dưới nước, chỗ chúng nó vừa bơi,giờ đang có một con cá trê đen trũi há mồm lên mặt nước ngáp ngáp lấy khí thở, nhưng mà, con cá trê to bằng cả cái thuyền nan. Tiếng khóc của lũ trẻ làm động tới mấy người đốn củi và thợ săn, người canh dê trên núi, tất cả tức tốc lao xuống. Và không chỉ trẻ con mà cả người lớn gồm hơn hai chục người cũng há hốc mồm kinh hãi, dưới nước là con cá cụ trùi trùi, to bằng nửa cái thuyền đang bơi lởn vởn quanh bờ. Ngay lập tức một ông thợ săn giơ khẩu súng kíp lên nhằm thẳng con cá định bắn thì một người ngăn lại. Người này bảo hãy chờ gọi người làng ra rồi bắt, không ít người thế này, mà đạn thì yếu, không biết có giết được nó không, nó mà thù thì cả làng không yên. Một lúc sau thì dan làng tới, ai cũng kinh ngạc, xì xào bàn tán về con cá cụ kia. Nhưng con cá này lại rất dạn người, đông người như thế mà nó vẫn bơi vòng vòng quanh bờ như không có gì. Sau khi đã bàn bạc xong, tất cả thống nhất là sẽ ném mìn cho con cá không chết thì cũng choáng, rồi súng kíp cứ thế mà bắn. Một tiếng hô vang: "Ném này!", rồi uỳnh uỳnh hai tiếng đinh tai nhức óc, nước bắn tung tóe, rồi súng kíp trên bờ cứ nhè chỗ bóng đen mà nã, một lúc sau thì màu con cá loang đỏ cả mặt nước. Dân làng hò nhau lấy dây thừng ra lôi con cá về rồi mở tiệc làm cỗ cho cả làng ăn. Trong đám cỗ, ai cũng vui vẻ, cười nói hỉ hả, chỉ có ba ông thầy là ông N, ông A và ông K là mặt đăm, ba ông chả ăn miếng cá nào, chỉ hớp vài li rượu rồi đi về. Người làng vẫn cứ vô tư ăn uống, không hề biết rằng mình đã ăn phải thứ không nên ăn, động vào thứ không nên động……..



    Chuyện thứ bảy: Giải trừ tội nghiệt

    Từ sau cái đợt mà dân làng em bắt được con cá cụ kia thì trong làng bắt đầu có lắm chuyện quái dị xảy ra. Buổi đêm, ngoài đường làng có tiếng móng ngựa gõ cồm cộp đi đi lại lại, sáng hôm sau ra đường thì chẳng thấy có dấu vết gì. Dân đi câu đêm và dân đi săn thú, bắt tắc kè trên núi thì sáng nào cũng về không, nhiều người nhà gần sông còn bảo dạo này hay có đứa tắm đêm, đêm nào cũng có tiếng đập nước ì ùm rồi tiếng cười láo xáo ngoài đê. Nhưng dân làng tuyệt không có ai dám hé phên cửa ra nhìn, từ sau những biến cố lần trước, giờ đây ai cũng linh cảm là có chuyện sắp xảy ra. Đối với các cụ bô lão trong làng thì lại càng lo lắng, tất cả những bô lão đó đều là những người đã chứng kiến, hoắc chính là những người gác đàn tế năm xưa, chính tai họ nghe, chính mắt họ thấy về cái kì hạn 25 năm kia. Nhưng mà giờ đây, kì hạn đã qua được 3 năm mà chưa có gì xảy ra, mọi thứ vẫn quá yên ắng, quá bình thường, và với kinh nghiệm sống của cả đời mình, các cụ biết rằng, trước những cơn bão khủng khiếp luôn là những khoảng lặng một cách kì lạ

    Thấm thoát lại hai năm trôi qua, cả làng đang yên ổn làm ăn cấy cày thì bỗng nhiên, thầy V, ông thầy già nhất trong số sáu ông thầy ngày trước giờ đã từ trần, lúc này ông cũng ngót trăm tuổi. Trước lúc mất, ông đuổi hết mọi người ra rồi gọi ông K và ông N vào, ba người nói chuyện rì rầm trong buồng mà không ai nghe được. Ngay hôm đó, ông K, ông N và ông A tức tốc bắt tàu vào thẳng trong Thanh Hóa, dặn trước là đúng hai tuần nữa thì về, mọi người ở nhà trong hai tuần này phải chú ý giữ gìn này nọ,….. Ba ông đi được hai hôm thì ở nhà có chuyện động trời, máy bay Mỹ ném bom đánh phá miền bắc ném xuống làng một quả bom, cả làng không có nhà nào bị nhưng mà chỗ quả bom rơi trúng là…..chỗ chôn cái chum nhốt vong 25 năm trước. Khỏi phải nói các thím cũng tưởng tượng ra cái sự hoảng loạn của dân làng đến thế nào rồi, cả làng ăn không ngon ngủ không yên, ba thầy kia thì đi hết chưa về nên chẳng biết tính thế nào. Người thì chuyển về quê nội, quê ngoại để lánh nạn, người thì chạy lên Hà Nội tìm đường buôn bán,… cả làng chỉ còn lại vài trăm người, đìu hiu như một cái làng chết, chợ búa cũng bỏ không họp, vì họp thì có ai mua, bán cho ma chắc! 

    Nhưng mà vẫn chưa có gì xảy ra, dù vậy thì cả họ nhà em cũng dọn vào ở trong khuôn viên của nhà thờ tổ, hi vọng oai của cụ tổ sẽ bảo vệ được cho người trong họ. Hoạt động trong làng giờ cái gì cũng phải "tập thể", đi ra vườn giải quyết cũng phải đi tập thể, buổi tối gánh rau thịt lên chợ huyện bán cũng phải đi thành tốp mười lăm, hai mươi người. Thế rồi một hôm, bà H, chị của ông em đánh liều, gánh hàng chung với hai bà nữa, đang đi thì bà H đứng im, mặt xanh như tàu lá, líu lưỡi lại nói không ra tiếng, hai bà kia nhìn theo hướng bà H đang nhìn là hai gốc si sinh đôi ở vệ đường. Như một phản xạ, hai bà cùng nhìn lên ngọn nhưng một bà thì chẳng thấy gì, còn một quà thì nhìn thấy trên ngọn cây là một cô gái mặc áo tứ thân, đang ôm con hát ầu ơ trên đó. Hai bà liền vứt cả quang gánh, kéo bà kia chạy bán sống bán chết về làng. Về đến điếm làng, kể lại nhưng chẳng ai tin, cho là đàn bà nhát chết nên thần hồn nát thần tính,dân quanh đó thấy động thì kéo ra, ngồi được một lúc thì đám dân câu nhái cũng về đến cái điếm đầu làng, mặt ai nấy trắng bệch, dân làng hỏi sao thì họ bảo: Đang ngồi câu thì tự nhiên bên góc hồ chỗ hai ông kéo vó tôm reo ầm lên bảo vó nặng, họ liền buông cần, chạy sang giúp, nhưng kéo lên thì chao ôi trong vó là một đứa trẻ sơ sinh đỏ lừ như đóm, nhìn chằm chằm vào mọi người rồi cười khanh khách. Giờ thì dân làng mới tin mấy bà kia nói thật, thấy chỉ trong một đêm mà lắm chuyện xảy ra vậy, ai cũng thấy rợn người, chỉ mong sớm đến ngày kia để mấy ông thầy về tìm cách giải quyết.. Cũng vào tối hôm đó, bố em đang trông chú thứ năm ngồi học còn bố em thì xay thóc ở dưới bếp. Đang xay thì bố em nghe tiếng hét của chú út trên nhà trên, gọi rối rít: "Anh ơi! Anh ơi! Nó…nó…!" , bố em vội chạy hộc tốc lên nhà trên, thì thấy chú em đang ngồi rúc vào trong góc tường, mắt nhìn chằm chằm ra ngoài ngõ. Bố em nhìn theo thì chẳng thấy gì, chỉ thấy mảnh sành, mảnh ngói rơi vãi đầy nhà. Một lúc sau thì chú em mới hoàn hồn, bào đang ngồi học thì tự nhiên có đứa ném viên ngói sượt qua đầu, nhưng mà không xây xát gì, rồi nó nèm liền ba bốn mảnh ngói, nửa cục gạch vào trong, toàn sượt ngay sát người chú. Chú liền chạy ra đóng cửa sổ lại thì thấy từ ngoài đường, có một cái bóng đen lùi lũi như đống rơm, mắt đỏ rực nhìn vào trong nhà. Bố em nghe xong, sợ tái mặt, bảo chú đóng hết cửa nẻo lại rồi hai anh em cứ ngồi im trong nhà, không dám ho he gì nữa. 

    Đang ngồi thì có tiếng đập cổng rầm rầm, mà giờ đang ở nhà của ông bà nội em, bố với chú muốn chạy sang nhà thờ họ cũng không được, thế là hai anh em cứ ôm chặt lấy nhau, mặc cho ra sao thì ra. Một lúc sau thì tiếng đập cửa lại vang lên liên hồi, từ ngoài cổng tiếng bà nội vọng vào: "Hai thằng kia đâu sao để nhà cửa tối thế này! Ra mở cổng nhanh không tao vào thì quắn đít!" Chú em mừng rỡ, chạy ra định mở cửa thì bố em gàn lại, chỉ vào con chó đang chui dưới gậm giường. Mọi khi con này nghe thấy tiếng bước chân bà nội là vẫy đuôi chạy ra ngay, hôm nay thi cứ rúc trong gậm giường mà gằm ghè, chốc lại nhấm nhẳng cắn một tiếng. Lúc bấy giờ chú em mới chột dạ, bố em bảo chú ra đục hai cái lỗ bé bé trên giấy dán cửa rồi nhòm ra, hai người vừa kê mắt vào nhìn thì nghẹn họng không nói được tiếng nào, ngoài cổng không phải là bà nội mà là một cái bóng to trắng cao lêu nghêu, dễ phải đên ngang ngọn mít, người gầy như que củi, đang nhòm nhòm vào trong sân. Thế là hai anh em rụt vào, ôm chặt nhau, thở cũng không dám thở mạnh. Bỗng nhiên lại có tiếng đập cửa, rồi tiếng bà nội quát: "Thằng H.(bố em) đâu sao không xay lúa? Còn thằng D(chú em) học bài gì mà không bật điện lên, để tối thế này!" , con chó chui từ trong gậm giường ra vẫy đuôi mừng, không cắn nữa. Bố em biết chắc là bà đi lấy hàng về nên ra mở cửa. Vừa vào nhà, chú D khóc òa, chạy ra ôm lấy bà, mếu mào kể lại việc vừa nãy. Bà em vừa dỗ dành chú vừa hỏi xem hai đứa có làm sao không. Bố em thì thấy bà về rồi nên vững dạ, định xuống bếp xay nốt chỗ lúa thì bà túm lại, bảo để trời mai trời sáng hẵng xay. Đêm hôm đó, cả ba thức trắng tới sáng.

    Ba ngày sau thì ba ông K, N, A về từ lúc đêm, mấy nhà gần đường cái bảo có cả một ông khách cao to về cùng nữa, nhưng không nhìn rõ mặt. Về làng, sau khi biết chuyện cái chum bị trúng bom, ba ông chẳng to vẻ gì ngạc nhiên, bảo ông V đã tính trước là có chuyện nên bảo bảo đi là đi lo việc này đây. Có người đánh bạo hỏi ông khách cao to kia đâu thì ba ông cứ ậm ừ mà không nói. Ông K bảo dân làng lấy sắt ra đúc thành 4 cái cột nhỏ tầm cái phích Liên Xô, chạm khắc nhiều thứ hoa văn kì quái mà ông K vẽ ra, để ông K làm phép rồi đem đi yểm. Cách làm phép của ông K rất khác lạ, chỉ đặt 4 cây cột lên bàn tế rồi phun rượu, đốt bùa xung quanh, rồi cầm 4 nhành đào gài vào trong ruột cột. Xong xuôi tất cả, ông K cho người chôn sâu xuống đất, chia làm bốn hướng Đ-T-N-B xung quanh làng.
    Từ sau cái đợt ấy, làng em cũng đỡ bị ma quỷ phá rối. Ông N và ông A bảo: Lần đi đó, bọn ông đi vào tận trong đền vua Lê ở tận trong Thanh Hóa để xin một sắc gải tội cho thành hoàng, rồi lại lên đền thờ Đức Thánh Tản trên Ba vì, dâng sớ xin tội. Từ nay làng em sẽ không bị gì nữa, mấy cái oán linh bị Thánh Tản trừ rồi không còn gì hại nữa. Thế là người làng em lại trở về như cũ, cuộc sống lại quay trở về nếp sinh hoạt đúng nghĩa một làng quê. Nhưng mười năm sau, một đợt sóng mới lại nổi lên, lại một lần nữa làm khuấy động cuộc sống của cả cái làng bé nhỏ này, và lần này chỉ còn mình ông K đứng mũi chịu sào, dốc hết sức giúp cho làng em trước một biến cố khủng khiếp, có nguy cơ xóa sổ một ngôi làng.

    Chuyện thứ tám: Thần giữ của

    Trải qua hơn 10 năm yên ổn làm ăn, dân làng khấm khá lên trông thấy. Thế rồi bất ngờ, Chiến Tranh Biên Giới nổ ra, người Trung Quốc đang ở Việt Nam đều trốn ra nước ngoài hoặc về nước hết. Ở làng em thì chi có mỗi minh ông K là người Tàu, ông cũng định về nước luôn vì Cách Mạng Văn Hóa đã kết thúc được vài năm, giờ về chắc không sao. Nhưng dân quê nghĩ cái ơn ông khó nhọc vì làng khi trước nên cứ nhất quyết giữ ông ở lại. Chính quyền xã nhiều lần đến bức bách ông vì tội "tuyên truyền mê tín dị đoan, chống phá thành quả Cách Mạng" nhưng phép vua thua lệ làng, người quê em tìm mọi cách bảo vệ ông K, xã thấy thế thì cũng không dám làm căng, hơn nữa ông cũng chưa làm gì có hại cả, và họ còn sợ những mối quan hệ của ông K, dây giưa vào với ông có khi mất luôn cả cái ghế ngồi.

    Chiến tranh kết thúc, nhiều người trẻ tuổi về làng, mang theo những tri thức mới, hiểu biết mới. Trong mắt họ, những con người như ông K, những ngôi đền, ngôi chùa trong làng đều là tàn dư của chế độ phong kiến hủ bại, làm chậm quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhưng mà người làng ai cũng kính trọng ông, ông lại có ơn với nhiều ông lắm chức quyền nên nếu gây khó dễ cho ông thì thật là vô phúc chạm phải vây rồng.

    Bỗng một ngày, một đoàn khảo sát địa chất cả tây cả ta về làng, họ vào ngọn núi phía nam làng, đo đạ, lấy mẫu đất ở trong đó suốt hai ngày mới ra, lúc ra, ông nào ông nấy mặt tươi rói như bắt được vàng. Dân làng chẳng biết mấy ông định làm gì nên cũng mặc, nhưng với những cụ già cao tuổi thì các cụ biết họ định làm gì, ngày xưa, khi cách mạng về, các nhà địa chủ trong làng đều đem vàng bạc, của cải giấu vào trong núi đấy. Suốt hơn 40 năm nay chẳng ai dám động vào vì họ biết địa chủ không tốt đến thế, tự nhiên đem vàng giấu không vậy, ắt là họ còn phải yểm bùa, đặt tinh độc vào trong để bảo vệ, lắm kẻ còn đồn thổi rằng trong đó có cả Cô Yêu- thần giữ của.

    Người ta bảo, thần giữ của là một dạng phép của người Tàu, đem một cô gái đồng trinh, bỏ vào trong hầm, trói vào một cái ghế, cho ăn bùa bả gì đó trước rồi nhét sâm quý vào miệng, cốt để duy trì mạng sống. Sau rồi cứ thể bỏ rũ xác trong đấy. Từ đó trở đi, chỉ những người mang dòng máu của nhà chủ mới được vào kho tàng lấy của, còn người ngoài vào thì sẽ bị Cô Yêu vật chết ngay. 

    Chỗ ngọn núi đó, quê em goi là núi Cô Yêu, hàng năm cứ đến ngày lập thu là cúng cấp để tỏ lòng kính sợ, mong cô đừng có làm khó dễ người có việc qua núi. Mọi chuyện cũng chẳng có gì đáng nói nếu ma- người riêng biệt, nước sông không phạm nước giếng. Bỗng một đêm mùa đông năm 84, một đoàn xe ben, máy xúc, xe chở hàng ùn ùn kéo vào núi Cô Yêu. Sáng hôm sau, dân làng biết được thì họ đã dựng lều xong rồi, hỏi thì một anh kĩ sư đưa ra tờ giấy, nói đây là đất thuộc quyền quản lý của Nhà Nước nên Nhà Nước cho người đến khai thác đá. Tiếng là vậy nhưng ai cũng biết tỏng mấy ông che mắt cấp trên, nói là khai thác đá nhưng thực chất là đến đào của rồi ăn chia nhau. Thế rồi mặc cho dân ngăn cản, máy xúc đã bổ nhát gầu đầu tiên xuống nền đất. Nhưng nhát gầu vừa bổ xuống thì chim chóc quanh núi bay loạn xạ, kêu váng trời, thú rừng cũng thi nhau chạy trốn, bỗng một con trăn gió to như cái cột nhà vít dây, đu mình từ cây này sang cây khác, tiếng rít gió ù ù, nghe mà ghê người. Thế là từ dân cho đến cán bộ đồng loạt tháo chạy sạch, công nhân, kĩ sư chạy hết, bỏ cả máy móc, thiết bị. Đến trưa thì chẳng biết ai bảo mà mấy ông lại lên núi, tiếp tục đào xới. Dân làng ức lắm nhưng không dám lên núi vì ai cũng sọ mang vạ vào thân, chỉ rủa thầm để vài đứa bị Cô Yêu vặn ngược cổ rồi mới sáng mắt ra. 

    Năm ấy, ông K cũng đã già lắm rồi, lại thêm lang bạt nhiều năm, sương gió đời người nên giờ ông ốm luôn, toàn ở bệnh viện tỉnh nhiều hơn ở nhà. Mấy tuần nay, ông lại lên cơn hen nên hôn mê bất tỉnh, ở viện được vài ngày rồi. Vậy nên ông không biết ở làng có chuyện xảy ra, dân làng cũng ngại, kẻ thì chẳng muốn dựa mãi vào mấy ông thầy phù thủy, người thì sợ làm ảnh hưởng đến sức khỏe ông nên chẳng ai dám lên viện thông báo.

    Nhóm kĩ sư khai thác đã kia mới làm việc được bốn ngày mà đã thấy "thành quả", hôm đầu tiên, họ đào lên được một hòm toàn tiền Đông Dương, tính giá trị ra cũng phải tới vài trăm triệu. Hôm tiếp theo thì đào lên được một cái hũ lớn, cả đám ngừng làm, hè nhau nạy cái nắp ra xem được bao nhiêu vàng. Nhưng vừa nạy nắp ra thì ông công nhân cầm xà beng ngã lăn ra đất, tai, mũi mồm trào máu ra, mắt trắng dã, trợn trừng chỉ lên ngọn cây, không nói được câu nào rồi chết tại chỗ, trong hũ là một cái đâu người còn tươi nguyên Thợ thuyền thấy vậy cũng kéo nhau bỏ đi quá nửa, chỉ còn lại toàn những anh có máu liều. Ngay đêm hôm đó, lại có chuyện xảy ra, một anh công nhân đi tiểu đêm phát hiện ra một ông kĩ sư già đã treo cổ chết tự lúc nào. Cả trại xúm vào gỡ ông ý xuống thì không đã muộn, không cứu được nữa. Liên tiếp mấy ngày sau, máy xúc cứ vừa giơ gầu lên định múc thì lại chết máy, xe tải xe ben thì không cái nào khời động được, đã thế đến đêm, thợ ngủ ở đó toàn thấy có mấy ông mặc quan phục ra vụt thước vào đầu đuổi đi, cầm đầu đám này là một cô gái tuổi mới đôi mươi, mặc bộ áo chẽn màu trắng, người đẹp như ngọc. Mà sáng tỉnh dậy thì thấy anh nào anh nấy đều có mấy vết lằn đỏ trên mặt với cổ. Được hai tuần sau, cả thợ lẫn kĩ sư đều đi hết, lần này phải gọi phà vào chở hết cả xe ben, máy xúc đi. Đoàn phà cứ thế men dần theo sông mà đi, đi đến đoạn sông chảy ngầm trong lòng núi thì tự nhiên phà rung mạnh một cái, tý thì lật, nhưng sau rồi lại yên, cả đoàn phà vào bờ bên kia an toàn, còn mỗi cái phà chở anh kĩ sư trưởng và công nhân lâu năm là còn đang cách bờ vài chục mét. Thốt nhiên, cả cái phà lật ùm xuống, may mà ai cũng biết bơi nên người này kéo người kia vào bờ. Thốt nhiên, anh kĩ sư hét lên thất thanh rồi như bị cái gì kéo tuột xuống nước, mọi người trên bờ nghi là do phà chìm nên hút xuống, vội giục công nhân bơi nhanh vào bờ, chứ bây giờ bơi ra cũng chẳng cứu được, có khi còn bị hút theo. Lúc lên bờ, mấy người bên cạnh anh kĩ sư bảo rằng đang bơi thì tự nhiên thấy cái gi lành lạnh trơn trơn bơi lươn qua người, cơ mà nó to lắm, phải bằng cỡ cái cột nhà là ít. Còn những người đứng trên chỗ cao thì quả quyết rằng thấy một cái bóng đen xì, dài ngoằng, từ từ bơi về phía mọi người, lúc đó chỉ muốn hét lên mà cứ như bị cái gì bóp họng lại, không tài nào phát ra thành tiếng được.

    Sau khi mấy ông kĩ sư bỏ đi, người làng em ai cũng nghĩ sẽ lại được trở về những ngày cày cấy thanh bình trước đây. Nhưng chuyện vốn dĩ chẳng hề đơn giản như vậy bởi, giờ, nước sông và nước giếng đã phạm nhau rồi.


    Chuyện thứ chín: Quýt làm cam chịu

    Kể từ sau cái đợt kĩ sư, công nhân vào đào xới ở trong núi Cô Yêu rồi bỏ đi vì sợ quá không ở được. Bẵng đi 2 tháng, trong làng bắt đầu có chuyện.

    Lúc bấy giờ, ở quê em đang có mốt xem phim chưởng nhập lậu từ Trung Quốc về. Tối nào trai làng cũng kéo nhau lên quán bia nhà ông C thọt để xem, đến tầm 11h đêm thì về. Phải nói lúc đó, ở quê như có bệnh kiếm hiệp, từ truyện đặt tên cho con những cái tên đậm chất Kim Dung như: Nguyễn Bá Thông, Trần Tĩnh, Phạm Trùng Dương, Lê Hồ Xung,…. Rồi thì người người kiếm hiệp, nhà nhà kiếm hiệp, ra đồng thì trai làng cuốc đất cũng tụ khí đan điền, dồn huyệt Nhâm Đốc, về nhà thì lắm anh cứ ngồi đần mặt ra cả ngày để luyện nội công, cá biệt có cả chuyện ông chống tát xưng mặt bà vợ chỉ vì bà vợ dám chửi Hoàng Dung là gái lẳng lơ bỏ cha theo trai. Thôi thì cả làng cứ gọi là bát nháo cả lên, nhí nha nhí nhố. Các cụ thì chỉ biết lắc đầu mà than thở vì bây giờ bọn con cháu cứ như bị ma nhập, dở dở khùng khùng, mà cái thứ ma này thì đố thầy nào trị được, chỉ rủa bọn làm phim thâm nho, đầu độc cả lũ thanh niên.

    Chuyện bắt đầu từ đêm rằm tháng giêng, một đám trai làng vừa đi xem phim về, còn đang bàn tán sôi nổi thì thằng Y., mới 5 tuổi đi theo anh trai xem phim bỗng chỉ tay về phía bụi tre, ngọng nghịu nói: "Các anh ơi! Cô cô kìa, cô cô đang khinh công trên ngọn cây kìa!" Cả đám nhìn theo hướng tay thằng bé thì tất cả đang cười nói bỗng im bặt, mặt tái như ga cắt tiết. Ở trên ngọn tre, một người con gái mặc bộ áo trắng toát đang đứng phất phơ trên đó, cả đám lại kinh hãi một lần nữa khi thấy cô gái nhìn về phía mình, cười khanh khánh, tiếng cười vang vọng mãi như không dứt. Xong rồi chẳng ai bảo ai, cắm đầu cắm cổ chạy một mạch về nhà, sáng sau kể lại thì các cụ bảo đó là Cô Yêu, nhưng mà Cô Yêu thì toàn ở trong núi canh của, ra ngoài làng làm gì? 

    Tất cả cũng chỉ có vậy thì cũng chẳng có gì đáng kể cho lắm. Mấy bữa sau thì nhà ông Q, con thầy S ngày xưa làm đám cưới cho cháu, cả làng cùng đến chúc mừng, ai cũng khen hai đứa đẹp đôi, trai anh hùng gặp gái thuyền quyên. Đến tối, dân làng về gần hết, chỉ còn mấy nhà hàng xóm gồm nhà em, nhà ông T và nhà ông D là ở lại giúp ông dọn dẹp, dọn dẹp xong thì tất cả cùng ngồi trà nước phía ngoài hiên, để dành cả dãy nhà sau cho đôi vợ chồng trẻ. Đang lúc trà dư tửu hậu vui vẻ thì tự nhiên hai con chó mực xích ngoài hiên lồng lên, cắn nhát gừng ra phía nhà sau, rồi gà vịt bay loạn xạ, kêu quang quác khắp vườn, con trâu cột ở sau đồng rơm cũng khua sừng lộp cộp, chỉ muốn dứt thừng mà chạy. Đột nhiên, phía nhà sau có tiếng hét của anh M, mọi người vội lao nhanh vào nhà trong xem sự thể ra sao. Đập vào mắt mọi người là một cảnh tượng kì dị vô cùng, anh M đang tìm mọi cách để giữ chân chị U- vợ mình, còn chị U thì cứ tìm mọi cách để lao xuống cái giếng khơi ngoài sân, bất chợt, ông X hàng xóm kĩnh hãi chỉ tay lên nóc nhà, la lên :"Ối giời ôi!", mọi người nhìn theo thì thấy trên nóc nhà, con Ki, con chó đã bị làm thịt từ lúc sáng, vậy mà giờ nó vẫn còn đó, lại đang đứng hai chân, đầu đội cái khăn xếp của ông Q, hai chân trước túm mấy cây hương, đang nhảy tưng tưng trên nóc nhà, mọi người thấy vậy thì ai cũng khiếp, đứng đờ người ra. Anh M hét toáng lên: Các chú thím cứu vợ cháu với!", lúc này mọi người mới định thần lại, nhào ra giúp anh M ôm lưng chị U kéo lại, bỗng ông Q chạy lên nhà trên, một lúc sau ông trở lại, tay cầm cái kiếm gỗ của bố ông, ông S, cầm lên chỉ vào con cho rồi lại chỉ vào cái giếng, lầm nhẩm mấy câu rồi bẻ đôi cây kiếm, một nửa vứt xuống giếng, một nửa quăng lên nóc nhà. Ông vừa làm xong thì chị U giật nảy người lên vài cái rồi sùi bọt mép, xỉu luôn, còn con chó trên nóc nhà thì kêu ẳng một tiếng, lao luôn qua hàng rào sau vườn rồi chạy mất. Anh M lúc này cứ ôm người chị U mà lay, gọi em ơi em ơi, rồi anh lại quay sang bố: "Bố ơi nhà con sao thế này hả bố? Bố ơi!", ông Q bảo anh đưa chi vào trong rồi bóp dầu cho chị đi, sáng mai là khỏi. 

    Lúc lên nhà trên, mọi người xúm vào hỏi ông sao ông lại biết phép phù thủy thì ông trả lời là do bố ông dạy, nhưng học chưa đến nơi đến chốn thì bố ông mất nên thôi, từ ngày ấy đên giờ ông chưa từng dám dùng phép, hôm nay vì cấp bách quá nên phải dùng vậy thôi. Sáng hôm sau, từ lúc gà chưa gáy sáng thì mọi người đã bị dựng dậy bời tiếng kêu làng phát ra từ phía nhà bà P bán dưa cà muối ở xóm giữa. Mấy nhà hàng xóm chạy sang xem có chuyện gì thì thấy bà P đang ngồi thu lu bên bàn nước, đầu tóc bù xù, nhìn lên giường thì thấy ông A chồng bà đã chết, người vẫn còn đắp chăn. Mọi người hỏi sao thì bà P nghẹn ngào: "Nào tôi biết tại sao! Sáng nay lúc tôi đi mua lòng lợn, cổ hũ về cho ông ý ăn sáng, lúc về gọi ông ý dậy mà mãi không thấy thưa, tôi mới mở chăn ra thì….Ối ông ơi là ông ơi! Sao ông bỏ tôi lại ông ơi" Cả làng ai thấy thế cũng sụt sùi, ông A và bà P trước nay rất tốt, hòa thuận với xóm làng, ai cũng quý, con cháu thì đứa nào cũng học cao rồi lên thành phố, mỗi tháng lại vè nhà đem tiền cho bố mẹ. Hai ông bà thì yêu nhau sâu đậm từ hồi còn trẻ, đến tận bây giờ vẫn cứ quấn lấy nhau, ông đi đâu thì bà theo đó, bà đi chợ thì ông lóc cóc đạp xe chở bà đi, hàng xóm xung quanh chưa bao giờ thấy hai ông bà nói nặng với nhau câu nào. Có thể nói vợ chồng ông bà có một cuộc sống đáng để nhiều người mơ ước.

    Sau đám tang ông A, làng em liên tiếp xảy những cái chết bất ngờ, tai nạn có, không rõ nguyên do cũng có. Đầu tiên là anh G, đang làm cầu đường trong Thanh Hóa thì tự nhiên lại bị xe lu cán chết. Mấy anh làm cũng bảo đang ngồi nghỉ chờ xe lu cán xong đường thì tự nhiên anh G lao ra đứng ngày trước xe lu, người lại vội tắt máy đi thì đã muộn, anh G đã bị cán quá nửa người, anh vẫn sống nhưng không hề kêu đau lấy một tiếng, cứ cười xong lại khóc, trên đường đưa vào viện cũng vẫn thế, rồi anh chết trong viện, miệng vẫn nở nụ cười. Sau đó là ông N, thầy pháp, đang ngồi uống nước bên vệ đường tự nhiên ông đứng phắt dậy, lăm lăm kiếm nhìn quanh, tối hôm đấy về nhà ông chẳng bệnh gì mà tự nhiên mất. Rồi lại đến ông A, buổi tối làm lễ cho đám tang ông N thì tự nhiên ông A rú lên rồi ngất đi, máu từ tai với mồm cứ phụt ra như suối, trước lúc chết, ông A chỉ tay về hướng núi Cô Yêu rồi phều phào nói: "Bằng mọi giá phải gọi được ông K về, bảo ông ý là " Hỏng mất trấn phía Nam rồi, hỏng mất rồi!" Mọi người còn chưa hết kinh hãi thì từ ngoài vườn, một giọn cười the thé vọng vào, bát hương đặt trên bàn thờ tự nhiên bốc cháy phừng phừng, lửa đỏ rực. Con vẹt mà ông N nuôi tự nhiên đạp cửa lồng bay ra, vừa bay vừa hét :"Trả đầu cho tao! Trả đầu cho tao !", rồi nó đậu lên cái ảnh của ông N đang đặt trước quan tài, con vẹt chõ mõ ra phía cửa sổ mà mắng chửi, mọi người nhìn ra người cửa sổ, mấy người yếu bóng vía tý nữa thì xỉu. Bên ngoài cửa sổ, một cái bóng đen xì, đen đặc hơn cả bóng tối xung quanh đang vin tay vào cửa sổ, mắt đỏ, rực, to như cái đèn lồng đang nhìn chằm chằm vào trong nhà. Đột nhiên ông A bật dậy, ném thẳng ba đồng tiền Vạn Lịch về phía cái bóng rồi lại nằm xuống đất như cũ, cái bóng thì gào lên mấy tiếng như tiếng hổ gầm, rồi chạy thăng vào trong núi (Núi này trong có cái động gì thì em quên tên rồi, chỉ nhớ là tên động đẹp lắm, Khuyên Dương hay Tam Nhật Dương gì đó, cái động này như là thánh địa của loài hổ, hổ ở trong này rất khác với hổ thường là chúng săn theo bầy đàn, tới tận bây giờ vẫn chưa có ai dám bén mảng vào khu vực quanh động này). Dân làng thấy thế thì khiếp, vội cắt cử toàn thanh niên trai tráng ở lại đi tuần đêm giữ làng, còn người lớn tuổi thì sẽ lên viện xem tình hình ông K thế nào rồi tính cách.

    Mấy ngày sau, lại có thêm hai người chết bất đắc kì tử, cả làng trắng một màu khăn tang, thợ mộc làm quan tài không kịp, phải sang cả làng bên mua. Đúng lúc đó thì ông K về,…


    Chuyện thứ mười : Gửi xương tàn nơi đất khách

    Sau những cái chết, cả làng đâu đâu cũng là khăn tang, dân quê hoang mang cực độ thì ông K về. Đợt này về, nhìn ông K yếu hơn trước nhiều lắm, một người chân đi mòn cả Trung Quốc, lang bạt đến cả những khu tự trị xa xôi giờ chỉ còn là một ông già râu tóc bạc phơ, chống gậy lọc cọc. Ngay cả túi đồ nghề phù thủy của ông, ông cũng không mang được nữa, phải nhờ một bác xách hộ. Ngay từ lúc đặt chân đến đầu làng, ông K đã đứng khựng lại, ông bảo cụ D đi cùng : "Khiếp quá ông ạ! Khiếp quá! Sau mà làng ta nó ngập ngụa toàn là yêu khí thế này!", nói đoạn, ông rút trong túi ra một nắm bùa, bảo hai anh thanh niên đi cùng đem dán ở những ngã ba, cầu, dốc trong làng. Rồi ông quay sang bảo bác D làm hậu cần đem cơm trắng, muối, ra rắc ở những chỗ có bùa, rắc đến chỗ nào thì đốt tiền vàng rồi khấn cô hồn đến đấy, ngày hôm đó, chỉ riêng chỗ tiền vàng đốt trên đường như vậy cũng phải đến hai thúng.

    Vào trong làng, người nhà của những người chết vừa thấy ông K thì lại òa khóc, họ khóc không phải vì ông K về muộn, họ khóc là vì nhìn ông xanh xao quá, ông ốm quá mà vẫn lọ mọ về đây. Từ lúc nào, vị trí của ông K trong lòng dân làng không còn đơn thuần là một ông thầy phù thủy tài phép nữa mà còn là chỗ dựa tinh thần cho họ mỗi khi làng có biến cố. Ông K vội an ủi mọi người rồi đi nhanh lên đình, nơi các cụ bô lão đang họp, nhưng vì ông vốn không phải là dân gốc Việt nên không dám vào vội, ông đứng xin đài trước cổng đình ba đài, rồi ông mới dám vào. Sau khi ổn định xong, ông K lên tiếng :

    - Mọi tai họa làng ta đều bắt đầu từ cái đợt kĩ sư vào đào xới trong núi Cô Yêu, làm động đến nhiều thứ. Tôi bấm độn và xin quẻ thì biết được rằng trên đó vốn chứa rất nhiều vàng bạc, châu báu do địa chủ chôn dấu nhiều đời. Người yểm cái kho báu này cũng là một thầy pháp gốc Hoa như tôi, lại là người của gia tộc Vương bên Tứ Xuyên, cùng đứng vào hàng Thiên Đẳng như tôi. Nhà này và nhà tôi vốn là đối thủ với nhau từ bao đời trước, nên cách yểm của ông này gần như là khắc chế phép của tôi nên tôi cũng không chắc có giải được cái hạn này cho làng không.

    Tất cả những người ngồi trong đình nghe đến đây thì đều sợ đến run người, ông K đã thuộc vào hàng phù thủy cao tay như thế mà còn kêu khó thì bây giờ biết trông vào ai. Bỗng cụ H đứng lên, hỏi: " Thế ông thử kể tường tận xem cái phép đó nó làm sao, muốn giải thì còn cần những gì, xin ông cố cứu cho làng!" 
    Ông K đáp:" Phép của tôi không giải được nhưng phép của ông L lại giải được. Vì nghề phù thủy tuy chung nguồn nhưng lại có nhiều dòng, dòng này lại khắc được dòng kia. Nhưng mà ông L chết rồi, lại chẳng có người nối nghề nên thật là hết cách.". Bất chợt, cụ H kêu : "Thế thì còn cách! Hồi trước lúc tôi cùng đám thanh niên dọn đống cháy nhà lão L thì thấy được quyển sách bùa phép của lão, tôi sợ đem ra ngoài để ai đọc được thì gây vạ nên khóa lại cất ngày trong đình này! Cơ mà dùng sách thì được không ông!". Ông K mắt sáng lên, mừng rỡ :" Được chứ cụ, tốt quá, tốt quá!" . Thế là cụ H hồ hởi, kéo lê từ trong gầm ban thờ ra một cái hộp phủ đầy bụi, rồi cụ lấy một chiếc chia khóa đeo trên cổ ra, mở khóa hòm. Trong hòm là một quyển sách cũ, giấy đã ngả vàng. Ông K nhẹ nhàng lần mở từng trang sách ra xem, vừa xem ông vừa rùng mình, toát mồ hôi. Xem xong, ông nói :" Tôi thật không ngờ bùa chú Nam tông lại có dòng độc ác thế này, ông L dùng phép này thì bảo sao mà chẳng gặp đại họa!"

    Thế là ngay chiều hôm đó, ông K và các cụ bô lão, thanh niên trong làng vào cả trong núi Cô Yêu để lập đàn giải tội. Trước khi đi, ông đã kén kĩ người vào trong toàn là người tuổi Thân, Ngọ, Tỵ, Hợi, dặn trước là vào thấy gì cũng phải mặc kệ, không ai được cười nói, chỉ trỏ, nghe thấy tiếng ai gọi cũng không được thưa. Đến tầm 9h tối, đàn đã lập xong, ông K mặc áo bào đạo sĩ màu vàng nghệ, đầu đội một cái mũ lông hạc, tay cầm kiếm thép lên đàn làm lễ. Đầu tiên, ông khấn một tràng dài bằng tiếng Miên rồi hú lên một tiếng, múa may trên đàn y như người điên, rồi lại khấn một tràng toàn tiếng Tạng, tiếng Mông, tiếng Chà, vừa khấn ông vừa phun rượu phì phì ra xung quanh. Cuối cùng ông vốc một nắm đỗ, ném về phía trước, khấn : " Oan có đầu nợ có chủ, cớ sao lại làm hại sinh linh vô tội. Lục đinh lục giáp nghe ta, muôn ngàn ngọn lửa bắn lên cung Nam Tào!" Rôi ông trỏ thăng kiếm lên không, ông vừa dứt lời thì đám đỗ dưới đất tóe lửa, nổ đôm đốp như pháo. Bỗng nhiên, từ trong núi vọng ra tiếng con gái khóc lóc nỉ non ai oán, rồi lại có tiếng gầm vang trời như hổ, rồi lại tiếng gào thét chói tai. Ai nghe cũng bủn rủn cả chân tay, ông K quát : "Tất cả đứng yên, coi như không nghe thấy gì. Rồi ông lại khấn tiếp :" Phong Hỏa Lôi Điện! Giải giải giải!", rồi ông cắm ngập cây kiếm xuống đất thì tiếng gào thét dứt, thay vào đó là tiếng van vỉ, than thở. Ông K đốt một lá bùa, bắt quyết rồi ném luôn vào cái hình nhân, hình nhân bốc cháy rừng rực. Tiếng than khóc cũng tiệt. Ông K liền bảo mọi người đi thành tốp tám người, vừa đi vừa rắc gạo nếp với muối, bao giờ rắc hết thì về đây. Được chừng một tiếng sau thì mọi người về, ông K bảo mọi người đắp đất chôn cái kiếm kia rồi làm cái mộ giả, hàng năm đến ngày lễ tết, Vu Lan thì ra thắp hương khấn vái là được, nhưng tuyệt đối không ai được đào xới, động chạm gì đến nữa, có việc gì mà phải đi qua núi thì lên thắp hương, cũng bái chút rồi hãy đi, có khi lại được lợi.

    Nhưng kể từ hồi trấn yểm xong cho làng em thì ông K lại càng ngày càng yếu đi. Đem lên bệnh viện tuyến trên thì bác sĩ bảo do ông tuổi đã cao quá, lại chịu nhiều khổ cực từ trẻ, dạo gần đây thì lo nghĩ quá nhiều nên giờ cơ thể không chịu được nữa. Ông K lại ốm, nhưng chỉ mấy nằm viện thì ông K lại khỏe mạnh rồi xuất viện như chưa từng có bệnh gì xảy ra. Về làng, nhìn ông da đỏ au, mắt sáng tinh anh, đi lại nhanh nhẹn, giọng nói sang sảng, khỏe như thanh niên thì ai cũng mừng, nhưng chỉ có những người cao tuổi là thấy hồ nghi điều gì đó, dường như họ biết có chuyện sắp xảy ra. Lần này về, ông K đi thăm hỏi tất cả các nhà trong làng, đến nhà nào ông cũng cho ý kiến về việc trong tương lai, nào là cái hướng này tốt, nên để mùng sáu tháng sau thì đổi lại hướng cổng, tháng 8 năm nay có ngày hai ba là tốt, cưới gả vào ngày này thì tuyệt, có nhà thì ông lại gay gắt phản đối, bảo năm nay nhà này không nên xây nhà, nhà kia không nên cải táng,… dân làng thấy lạ nhưng ai cũng tin tưởng, nể vì ông nên nghe theo. Được tầm hai tuần thì ông K lại đổ bệnh nặng, dân làng đến nhà ông thăm hỏi rất đông, ngồi chật kín nhà. Trước lúc lâm chung, ông K lại dặn dò mọi người lại một lượt, năm này phải tránh cái này, năm nọ phải tránh cái kia.Rồi ông dặn dò chuyện hậu sự của mình :

    -Tôi phiêu bạt cả đời, về đến đây dừng chân, các ông các bà chẳng kì thị tôi khác giống mà lại đối sử với tôi hết lòng, thật đây như là quê hương thứ hai của tôi vậy. Sau khi tôi chết, làng hãy hỏa táng tôi rồi đem chôn ở góc phía nam của núi Chàng Sinh. Tiền lo liệu hậu sự, tôi đã chuẩn bị từ lâu, để trong cái hộp gỗ dưới gầm giường, tôi tính lo xong chắc cũng còn nhiều, được bao nhiêu thì làng gửi thẳng cho tôi vào công quỹ, mỗi năm lấy ra một phần làm phần thưởng cho các cháu học giỏi.

    Rồi ông lại nhìn quanh, hỏi: 

    -Thế chú H chưa về hả?

    (Chú H ở đây chính là bố em, bố em lúc này đã đi thoát ly được 5 năm, nghe tin ông H bệnh là bố em liền bắt tàu từ trong Nam về ngay, nhưng về đến quê thì không kịp nữa.)

    Mọi người bảo ông là mai bố em sẽ về đến, ông phải khỏe để còn chờ bố em về. Ông K liền đưa ra một phong thư và bảo mọi người bao giờ bố em về thì đưa cho bố hộ ông. Nghỉ một lúc, ông K lại thều thào nói tiếp :

    -Tôi thực rất quý quê ở đây nhưng àm tôi vẫn cứ là người Trung Quốc, ngày sau có ai sang bên đó thì xin đem xương cốt tôi về với, rồi lên Thiểm Tây, hỏi nhà họ Trương Thiết, rồi xin hộ tôi với ông trưởng tộc là ông cho đứa bất hiếu là Trương Thiết Trấn về đất của dòng họ. Miếng đá này xin đưa cho người giúp tôi đem lên Thiểm Tây để làm tin. Còn viên ngọc trai đen trong cán kiếm của tôi thì xin tặng người đó để trả ơn.

    Nói đoạn, ông rút miếng đã ra đưa cho cụ H, cụ H và dân làng khóc mà bảo ông không phải lo nhiều, dân làng sẽ cố hết sức để đưa ông về quê cha đất tổ.Ông K gật gật đầu rồi mỉm cười mãn nguyện. Rồi ông bắt đầu hát, ông hát bằng tiếng Trung, mọi người nghe không hiểu gì nhưng nghe âm điệu thì đó có vẻ như là một bài tình ca của dân tộc thiểu số Trung Quốc, nhưng không ai biết là ông hát cho ai. Ông K cứ hát ngân nga, ngân nga rồi khóc,lần đầu tiên mọi người mới thấy ông khóc, ông hát xong thì cố chút sức tàn nói mấy câu toàn tiếng Trung, rồi ông mất. Có vài người ở đó hiểu võ vẽ chút tiếng Trung, nói đó là ông đọc hai câu thơ : Yêu nhau từ lúc đầu xanh- Âm dương cách biệt chẳng phai duyên tình . Ông còn gọi tên một người, không dịch được nhưng chỉ nghe là : "Lian Lian"

    Cuộc đời của một thầy pháp lừng danh đã kết thúc như vậy, nghề phù thủy đã đẩy ông K vào bao nhiêu sóng gió cuộc đời, giờ thì ông chết nơi đất khách quê người, xung quanh không có lấy một người thân.

    Chừng 5 năm sau thì có người bên Trung Quốc sang hỏi tin ông K, một ông già hơn 70 tuổi cứ lọ mọ đi từng nhà, hỏi bằng giọng tiếng Việt líu lơ xem có biết ai cũng có hình xăm trên tay như ông không, nhưng chẳng ai biết. Cuối cùng thì có một ông già sống cùng thời ông K nhận ra cái hình xăm này giống y hệt hình xăm trên tay ông K, chỉ khác là của ông K thì có chữ Thiên nhỏ ở mé trái còn của ông này thì chỉ có chữ Nhân, ông già kia mới hỏi có phải ông quen biết một người tên là Trương Thiết Trấn không. Ông gia người Hoa kia mừng rỡ trả lời đấy là anh ruột của ông, vì hồi trẻ bị gia đình từ mặt nên bỏ nhà đi, bây giờ bố mẹ ông đã qua đời lâu, ông lại làm trưởng họ nên muốn đi tìm anh về đoàn tụ. Hóa ra ông K còn có em trai, dân làng nghe tin người nhà ông K đến thì đổ xô đến xem, đến chiều thì ông này được dẫn lên quả núi có một ông K. Đến chân núi, ông này tự nhiên quỳ xuống rồi vừa bò vừa khóc lên chỗ mộ ông K, dân làng và con cháu ông vào cản thì ông gạt hết ra, cứ thế bò lên núi, tay trầy bật cả máu vẫn không chịu dừng. Sáng hôm sau, ông xuống làng xin mọi người cho ông đem hài cốt anh mình về quê, muốn bao nhiêu tiền ông cũng giả, rồi ông lấy ra hai va ly toàn tiền đô, ít cũng phải vài chục ngàn. Nhưng các cụ trong làng không nhận đồng nào, lại dẫn ông đến nhà cụ H nhận lại những đồ hồi trước của ông K. Cụ H giờ đã yếu lắm rồi, chỉ toàn nằm một chỗ, nghe có em ông K đến thì cụ liền ngồi dậy nhưng không được, cụ bảo con cháu khuân cái hòm trên gác xuống trao lại cho ông cụ, rồi cụ H lấy từ trong cái túi gấm đeo bên hông ra cái mảnh đã của ông K. Ông già kia nhận lại mảnh đá, rưng rưng nước mắt, ông cũng lấy trên cổ ra một mảnh đã như vậy, nhưng đối xứng với mảnh đã của ông K. Rồi ông khớp hai mảnh đá lại với nhau, thì ra hải mảnh đá ghép lại sẽ thành hình Âm Dương Bát Quái, ông K giữ mảnh Càn còn em ông giữ mảnh Khôn. Sau đó, ông già kia mới kể lại lai lịch của ông K cho mọi người nghe, những quãng đời phiêu bạt của ông K thế nào thì ông không biết. Giờ mọi người mới rõ là ông K có xuất thân kì bì đến vậy, còn ông già này tên là Trương Thiết Bách, lúc ông K bị đuổi đi thì ông mới có 5 tuổi. Sau đó, ông Bách còn ở lại làng chơi mấy ngày rồi mới về nước, trước khi về ông lưu lại địa chỉ và số điện thoại, số Fax, số điện báo của ông cho các cụ. Ông bảo ông xem làng này có oán khí cứ vương vẩn không tan, sớm muộn cũng có chuyện. Nếu có chuyện gì thì cứ liên lạc, tự khắc có người đến giúp. Dân làng nghe sắp có chuyện thì kinh hãi, lo lắng không biết trời còn giáng thêm tai hạ gì xuống cái làng nhỏ bé này nữa. Nhưng lần này thì không biết ai sẽ đứng ra chống đỡ cho làng. Lần này thì chuyện đã dậy dưa đến cả đời em, và cũng qua đó mà em quen một người bạn thần bí vô cùng.


    Chuyện thứ mười một: Hậu họa từ năm xưa

    Từ khi ông K mất, làng em như thiếu mất một cái gì đó. Sáng sớm không còn nghe thấy tiếng đạp xe kẽo kẹt đi lên tỉnh, những đám giỗ, đám ma, bốc mộ,…không ai còn thấy bóng dáng một ông già mảnh khảnh, tóc bạch kim, mặc cái kaki đã sờn vai, tay bắt quyết, tay cầm kiếm như trước. Bọn trẻ con cũng thấy hụt hẫng vì giờ chẳng còn thấy những ông leng keng như ông A, ông N trong những đám việc trong huyện nữa. Chẳng còn bóng dáng một ông béo tốt, da đỏ au và một ông gầy gò, mặt hiền như bột hay đi cùng nhau trên đê nữa, chẳng còn hai ông mà ngày nào về đến đầu làng cũng cho chúng nó đủ thứ xôi oản, trứng gà như trước. Giờ đây, quê em không còn là cái làng quê mang màu nhiệm, huyền bí nữa. Đứng trước guồng quay của thế giới hiện đại, làng em cứ dần thay đổi từng ngày. Thanh niên trí thức giờ đã bỏ làng lên thành phố kiếm việc rồi ở luôn trên đấy hết, ở lại làng chỉ còn ba phần mười số thanh niên và toàn người già.

    Chắc các thím còn nhớ quyển sách của lão L đã chỉ dẫn cho ông K cách giải yểm trong làng. Nhưng từ sau đợt trấn yểm lại núi Cô Yêu xong, tự nhiên quyển sách không cánh mà bay. Đó là vào ngày hội làng, cụ H và các cụ cao niên quyết định đem quyển sách đốt đi đẻ phòng trừ họa về sau. Nhưng khi mở dấu niêm phong, rồi cả mười người lần lượt mở mười cái khóa ra thì lúc mở hòm, các cụ ngớ người ra vì trong hòm rỗng không, quyển sách của lão L giờ đã không cánh mà bay, rõ ràng chính tay cụ H và cụ D đã đặt quyển sách vào hòm trước sự chứng kiến của cả mười cụ bô lão. Giả tỷ như có trộm lẻn vào thì cũng chẳng thể nào còn dấu niêm phong, mà dù là có con cháu của ai muốn lén lấy cũng chẳng được vì phải mở cả 10 ổ khóa thì cái hộp mới mở ra. Các cụ còn đang băn khoăn thì đùng một cái, một tiếng sét nổ giữa thinh không, rồi lại ùng oang thêm tám tiếng nữa mới dứt. Dân làng ngơ ngác nhìn nhau, lo lắng không biết chuyện gì sẽ lại xảy ra trên cái đất này. Mấy ngày sau thì hội tan, các cụ họp nhau bàn cách đối phó, có cụ bảo hay là liên lạc qua bên Trung Quốc xin gia tộc nhà ông K giúp, nhưng ngay lập tức các cụ khác gạt đi vì làng em đã nợ ông K quá nhiều, không thể bắt người ta lặn lội mấy ngàn cây sô sang đây chỉ vì chuyện của làng mình được. Bàn qua bàn lại thì các cụ cũng quyết định là sẽ xin với bên xã cho thêm dân quân tuần đêm, buổi tối ai mà đi đường thì phải đi theo nhóm, không được đi lẻ, thế là ổn.

    Và mọi chuyện vẫn cứ ổn cho đến một ngày. Đợt đó, dân chài liên tục than vãn vì dạo này sông chẳng kéo được mấy cá, chỉ toàn kéo được cá bé tí ti, chẳng bõ sức quăng lưới. Còn bọn trẻ con chăn bò, chăn dê trong núi thì bảo dạo này cái khoảng sông ngầm sát núi cứ đục ngầu như có ai khoắng, không dám thả trâu bò ra uống nước. Nghe đến khoảng nước đục là những bác trung niên lại giật mình nghĩ về vụ con cá trê đợt nọ, một số thanh niên thì lại càng ghế bởi chính họ là những đứa trẻ năm nào đã gặp con cá trê ở đó. Thế là dân làng cấm không cho trẻ con ra chỗ sông ngầm sát núi kia chơi, ngay cả người lớn mỗi khi có chuyện đi đò qua cũng thấy rợn cả người, lúc đò cập bờ rồi mới yên tâm là mình còn sống. 

    Thế rồi một hôm, dân kéo vó đêm huyên náo cả lên, họ kéo được một con lươn to chưa từng thấy, nhìn cứ trùi trũi, to bằng cái phích, dài tầm mét rưỡi. Dân làng đổ ra xem thì thấy đó chẳng phải lươn cũng chẳng phải rắn, nó có vây, có da trơn láng như lươn nhưng lại có mồm như mồm thạch sùng, nhìn quái dị vô cùng, mà mắt nó tuy cũng vào loại ti hí nhưng cũng chẳng đến mức híp như mắt lươn. Con này lên bờ rồi mà khỏe vô cùng, quấy rách tấm lưới ý như xé một tờ giấy vậy. Lúc nó há mồm ra thì có cảm tưởng chỉ đớp một cái là lủm luôn tay mình, mặc dù nhìn mồm nó chẳng có tý răng nào. Nhưng dân làng không dám giết thịt, cứ để đấy, đợi xã đến giải quyết. Chờ được hai tiếng thì trên xã cử một anh phiên dịch và một ông tiến sĩ người Nga xuống. Xem xong thì ông này nói không biết con này là còn gì, nhưng nếu đếm vân trên đầu nó thì ước lượng được nó chỉ là con non được vài tháng. Nghe đến đây thì dân làng dựng tóc gáy, con non đã thế này thì ắt phải có con mẹ, mà con mẹ thì còn lớn tới cỡ nào. Ông tiến si Nga liền mổ con lươn, mặc cho sự phản đối của dân làng vì họ sợ bị con mẹ trả thù. Mổ xong con lươn, ông Nga và anh phiên dịch bỏ hết vào thùng đá ướp lạnh rồi đem lên phà chở về nghiên cứu. Phà đang chạy ngon thì tự nhiên chao nghiêng một cái, ông Nga và anh phiên dịch suýt nữa lăn xuống nước. Đi thêm một quãng thì phà lại rung lên, đi thêm quãng nữa đến giữa hồ thì phà bị lật ùm một cái. Anh phiên dịch sợ quá lóp ngóp bơi vào bờ, ông Nga to khỏe bơi đằng sau, bơi nhanh gấp mấy anh phiên dịch, nhưng đang bơi thì ông Nga bị kéo thụt xuống nước, anh phiên dịch khiếp, bơi nhanh vào bờ, vào đến bờ thì dân làng kéo lên được. Còn ông Nga bị thụt xuống chẳng biết sống chết ra sao, mấy ông dân chài vội đẩy thuyền ra cứu thì thấy ông Nga lại trồi lên rồi hụp xuống mấy lần, hét lên toàn tiếng Nga, xua tay ra hiệu bảo mọi người không được xuống. Mấy ông dân chài mặc kệ, cứ đẩy thuyền ra, thuyền ra gần đến nơi, sắp túm được tay ông Nga rồi thì sóng cồn lên, thuyền dạt hết cả ra, còn ông Nga thì thụt xuống không thấy cả sủi tăm. Một vài ông chài đánh bạo, thò đầu xuống nước nhìn thì tất cả cùng rụt lại, hét lên kinh hãi rồi thúc cho thuyền vào bờ nhanh. Lúc lên bờ, mấy ông đều kẻ là thấy dưới nước có một cái bóng to hơn cả thuyền mình đang bơi lừ lừ ở dưới, mắt đỏ ngầy nhìn lên chỗ mình. Nhưng mà nước đục nên mấy ông không nhìn rõ là con gì, vội bơi thuyền vào bờ.

    Dân làng nhìn xuống sông rồi lại buồn buồn nhìn nhau, không hiểu lần này họ đã đắc tội với thần thánh phương nào để gây nên cái họa này.


    Chuyện thứ mười hai: Vô phúc vuốt phải vây rồng

    Sau vụ ông tiến sĩ Nga gặp nạn ở sông làng em, người trên xã có xuống hỏi, dân làng thấy sao thì kể vậy. Cơ mà xã không tin, bảo mê tín dị đoan. Rồi lại điều tra này nọ suốt nửa tháng mà vẫn chẳng tìm rõ nguyên do cái chết của ông người Nga, thế là trong hồ sơ đánh luôn chữ tai nạn, xong thì không đả động gì nữa.

    Nhưng từ đó, làng em cũng sinh ra lắm chuyện quái dị, ai đi đêm cũng kêu là nhìn thấy ma. Khởi đầu là từ nhà vợ chồng anh M, chiều hôm đó, anh M đi làm về, vào nhà thì thấy vợ đang đổ nước vào thùng, anh liền ra ôm lưng vợ, trêu cợt. Nhưng mà vợ anh chẳng phản ứng gì, như mọi khi là quay lại cười nói trêu lại chồng rồi. Nghĩ vợ mệt hay do mình trêu quá trớn nên anh xoay người vợ anh lại thì hỡi ôi, vợ anh đang cười, mồm ngoác rộng đến mang tai, anh giật mình buông chị vợ ra, gọi vọng lên nhà trên :"Bố ơi! Bố ! Bố xuống cứu con với!" Lúc này, ông Q và cả…chị U chạy từ nhà trên xuống, vừa nhìn thấy chị U thì anh M giờ lại càng thấy khiếp, không biết cái thứ mình vừa ôm là thứ gì. Ông Q và chị U chạy xuống thì thấy ngay cảnh tượng kì quái đó, chị U còn khiếp hơn vì không hiểu ai kia mà giống mình thế, nhưng mà cái mồm, cái mồm nó. Cả ba người cũng đứng ép vào một góc sân, cái thứ kia vẫn cứ đứng đó ngoác mồm cười. Ông Q liền chỉ vớ lấy cây chổi lúa, rút ra một sợi, rồi lại dứt tóc trên đầu quấn vào, ông bắt quyết, niệm chú, rồi thổi một cái vào sợi rơm, ném ngay trước mặt "nó". Nó thấy vậy thì gào lên một tiếng rồi chạy ra sau vườn, ông Q vội cầm lấy cái cuốc rượt theo. Cả tối hôm đó ông Q không về nhà, con cháu và hàng xóm liền đổ đi tìm, mãi đến tờ mờ sáng hôm sau, ông mới lững thững đi vào phong khách, ngồi phịch xuống ghế, mặt đăm đăm. Con cháu vội ùa ra xem ông có làm sao không, hỏi sao tối qua ông đi đâu mà không về. Ông Q chỉ nói đúng một câu: " Cái làng này đúng là hết phúc thật rồi! Thật là tuyệt đường sinh sống mà!". Sau cái vụ nhà ông Q, lại đến nhà anh T và anh A ở đầu xóm trong. Hai nhà này vốn là hàng xóm thân thiết, tối đến toàn sang nhà nhau chơi. Một bữa, hai nhà rủ nhau đi xem chiếu bóng, tối mịt mới về, về đến bụi tre đầu làng thì chị C vợ anh T và chị H vợ anh A tự nhiên hét lên, mặt trắng bệch. Hai ông chồng thấy vợ thế thì cuống cả lên, rối rít hỏi sao thì hai cô vợ chỉ vào bên đường, hai anh nhìn lại thì là một cái bóng đen, nhưng nhìn kĩ thì hóa ra là một đứa bé đang ngồi khóc. Hai anh vội trấn an vợ rồi ra xem đứa bé. Anh T lại gần đứa bé hỏi : " Cu con sao giờ này không ngủ ở nhà với bố mẹ mà lại ra đây làm gì?", đứa bé im không khóc nữa những cũng chẳng trả lời. Anh A bực mình xen vào : Thằng oắt này láo nhỉ, người lớn hỏi mà không nói, để tao xem mày là con nhà nào!"- nói rồi anh đưa tay ra định xốc đứa bé lên nhưng tay anh vội rút lại vì thấy hơi xung quanh thằng bé lạnh toát như sương. Đứa bé tự nhiên quát lại bằng cái giọng ồm ồm, rè rè :" Mày bảo ai là oắt!". Nói rồi "đứa bé" đứng lên, anh T và anh A cũng vội nhảy lùi lại, mặt cắt khong còn giọt máu. "Đứa bé" lúc ngồi thì bé tý mà đứng lên thì cao lêu nghêu, người gầy đét, tóc xõa dài xuống. Cả 4 người thấy vậy thì hồn vía lên mây, vội kéo nhau chạy một hơi về nhà, chạy được quãng thì sau lưng có tiếng cười thé thé từ xa vọng lại, chạy tiếp đến gần nhà mà tiếng cười vẫn cứ vang vang ở sau lưng. 

    Thế rồi làng em lại có biến, trong một tuần có tới năm người chết đuối, mà toàn là dân rái cá trong làng, chỉ có tắm gần bờ mà tự nhiên thụt xuống nước, người trên bờ thấy mà không kịp xuống cứu,mà xác cũng chẳng tìm được. Từ đó, dân làng tiệt không ra sông nữa, trâu bò uống nước cũng chỉ dẫn ra ao hoặc chỗ nước nông sát bờ hồ. Những lạ cái là thuyền buôn của người nói khác đi trên sông thì chẳng sao, vậy mà thuyền bè của làng em cứ xuống nước là lật, may có mấy thuyền buôn cứu chứ không thì phải chết đến mười mấy mạng là ít. Thế rồi lại có tai họa khác giáng xuống, chẳng hiểu sao chó mèo trong làng cứ chết dần, những con ốm yếu, già cốc thì chẳng nói làm gì, ngay cả những con khỏe mạnh cũng tự nhiên lăn ra chết sau một đêm. Dân làng giờ thấy sợ hãi hơn bao giờ hết, tai họa lần này nó không ào ạt, không dữ dội như những biến trước, nó cứ từ từ, từ từ giết đến một cách im lặng, bây giờ thì chỉ có chó chết, sau này chẳng biết còn cái gì xảy ra nữa. Nhiều người bỏ làng lên vùng rừng sim gần Tam Điệp để khai hoang, lập làng, lập xã mới, hi vọng sẽ thoát khỏi được tai kiếp lần này. Trong đó có nhà ông em, nhưng vùng đất mới này nó cũng chẳng thanh bình như mọi người mong đợi.

    Chuyện thứ mười ba: Dân mới đến

    Lần này nhà ông em di cư lên vùng đồi sim gần Tam Điệp. Hồi đó, khắp cả vùng này đâu đâu cũng tím ngắt một màu hoa sim, nhưng đây cũng từng là một nghĩa địa cổ, đã hơn 300 năm trôi qua, mộ phần ngày trước bị bồi lấp, mưa gió giờ đã chẳng còn nhận được đâu vào với đâu. Lúc đó ông bà còn khỏe, phát hoang được hơn chục sào đất, rồi chia cho con cháu cắt đất làm ruộng xung quanh,còn ông bà thì cất một cái nhà ngói khang trang, sạch sẽ làm nơi an dưỡng tuổi già. 

    Dạo này ở quê cũ cũng có lắm chuyện xảy ra, không hiểu sao cứ đến ngày mùng chín và ngày rằm hàng tháng là lại có một người chết, mà toàn là đột tử. Từ ông G nhà bán thịt, đang ngồi nghĩ thì chẳng hiểu sao con dao thái thịt rơi xuống, ông vội nhảy lùi ra thì tự nhiên trượt chân ngã đập đầu xuống đất chết, sau rồi lại đến cô H, anh S, chú D,… đều chết lúc ngủ. Cứ thế hơn 4 tháng rưỡi, chết mất 9 người, từ đó lại thôi, chẳng có ai chết nữa. Nhưng cứ đến đêm là trong làng lại có tiếng í ới gọi nhau, rồi tiếng rục rịnh, tiếng bước chân rầm rập kéo vào trong núi rồi lại kéo ra, cứ thế tới tận lúc mặt trời mọc thì hết. Đặc biệt là những nhà gần đường làng lại còn thấy như có bàn tay ai đập rầm rầm vào cửa sổ. Dân quê khiếp lắm, không ai dám ngó ra nhìn, ngay cả ho mạnh cũng không dám. Bỗng một ngày, có một người đàn ông chừng 30 đến làng, nhìn thì biết là dân Trung Quốc sang, dân lang em thì ghét người Tàu lắm, duy chỉ có ông K là trường hợp đặc biệt nên khác, họ nghĩ rằng người tử tế như ông thì cả vạn người mới được một, còn bon Tàu còn lại thì toàn là lũ thâm nho khó lường.

    Vừa đến làng thì chú này vội đi gặp các cụ, tự giới thiệu mình là con út của ông Trương Thiết Bách, dạo này bên đó gia đình bị chính quyền địa phương làm khó nhiều điều nên muốn sang đây nương nhờ, mong làng rộng lượng cho phép ở lại. Các cụ nghe thấy là thân thích với ông K thì cũng bớt nghi ngại phần nào, bảo anh là chiều lên xã mà xin khẩu, các cụ không có quyền quyết đinh. Thế là chú đó lên xã ngay trong chiều xin cấp đất, chẳng biết làm từ bao giờ mà ông này đã nhập quốc tịch Việt Nam. Lằng nhằng giấy tờ mất vài tháng thì cũng xong. Chú này tên là Trương Thiết Sĩ, ở làng gọi tên Việt là S. Những ngày đầu ở làng, chú S mở một cửa hiệu thuốc Bắc ở trên thị xã và làm một cái nhà 3 tầng ở làng để cuối tuần về nghỉ. Nghe đâu trong làng có người bệnh là chú S lại đến thăm và cắt thuốc cho không lấy tiền. Mới đầu thì dân làng kì thị, nghi ngờ ghê lắm, lâu dần, thấy chú hiền hiền, lại tốt tính nên dân làng cũng dần hết ác cảm, lại quý chú. Nhìn chú, dân làng lại nghĩ đến ông K mà buồn. Chú S ở được chừng ba năm thì yêu một cô gái người Việt và cưới cô đó về làm vợ, cô này tên là M. Sau hai năm nữa thì cô M sinh cho chú S một thằng con trai, cả làng ai cũng đến chúc mừng, chú S quyết định đặt cho nó cái tên là Trịnh Thiết Việt để tỏ lòng biết ơn mảnh đất đã rộng vòng tay đón chú. 

    Năm thằng Việt được 4 tuổi thì em về quê chơi, mới đầu gặp em nhìn nó bằng con mắt khác lạ, trông nó khác hẳn với bọn trẻ trong làng. Người nó mảnh khảnh, da trắng như da con gái, tóc thì láng mượt. Thấy em đi cùng bon trẻ trong làng đi chơi thì thằng Việt đi theo, nhưng nó cứ đứng ở ngoài mà không dám chơi, em rủ nó chơi cùng thì nó lại bảo :
    -Mày chơi với tao à! Sao mày tốt thế?

    Em đáp:
    -Mày bị khùng à! Sao không ra kia chơi? Đứng đây cho chết nắng à!

    Thằng Việt trả lời:
    -Nhưng mà chúng nó không cho tao chơi! Chúng nó bảo tao là thằng Tàu bay

    Giờ thì em mới rõ là tại sao thằng Việt lại cứ lủi thủi một mình như thế, hóa ra là bon trẻ trong làng ghét thăng Việt vì bố nó là dân Trung Quốc.Em túm áo thằng Việt đi chỗ khác chơi, bảo :

    -Kệ xác bọn nó, tao chơi với mày là được.

    Thế là mấy ngày sau, em và thằng Việt toàn đi chơi cùng nhau, hai thằng cứ như hình với bóng, thế là thành bạn thân. Sau này, em còn phát hiện nhiều điều bí ẩn về thằng Việt mà mãi về sau bọn bạn cùng làng mới biết. Hết hè thì em lại về Hà Nội, lúc em lên xe, thằng Việt ra tiễn, nó đưa cho em một cái dây chuyển nanh hổ, bảo : "Lên thành phố thì đừng quên tao H nhé!". Đến bây giờ em vẫn đeo chiếc vòng như vật hộ mệnh

    Hè năm sau về quê thì nhà thằng Việt đã về Thiểm Tây, chú S bảo phải cho nó về nhận mắt họ hàng và ghi tên vào gia phả, chú giao lại hiệu thuốc cho hai anh học việc trông coi rồi dặn là mười năm nữa chú về rồi ở luôn đây.


    -------------------------------------------------------

    Mười năm sau, em và hai thằng bạn dưới quê lên ga tàu đón nhà thằng Việt. Đến 9h thì nhà thằng Việt xuống tàu, chú S vừa nhìn thấy em từ xa đã nhận ra, đưa tay chào. Em và hai thằng chạy đến, em vừa đến thì nhìn thấy cạnh chú S là một thằng người mảnh khảnh, da trắng, nhìn là em nhận ra ngay đấy là thằng Việt, thằng Việt nhìn thấy cái vòng cổ em đeo thì cũng nhận ra em, hai thằng chạy lại ôm chầm lấy nhau, đấm thùm thụp vào lưng nhau. Bây giờ để ý xung quanh thì em mới nhìn rõ là còn có ai đang đứng núp sau lưng cô M, em hỏi ai thế kia thì thằng Việt chạy lại kéo tay người đó ra. Suýt chút nữa thì em hét lên :" Âu mài gót! Con nhà ai mà xinh thế!". Thằng Việt nói :

    -Đây là Ngọc Anh, em gái tao, lần trước mày về quê nó mới có 3 tuổi, toàn ở trong nhà nên mày không biết thôi. Con Ngọc Anh ra chào anh H đi kìa!

    Em gái thằng Việt bẽn lẽn ra chào em, lúc đó phải nói là em cũng có chút rung động, nhưng đó là chuyện về sau, nếu các thím vote thì em xin viết lại một thớt truyện tình cảm, kể chi tiết lại chuyện này.


    Sau khi sắp xếp xong xuôi, em lấy xe đèo thằng Việt và em gái nó về, còn cô M và chú S thì lên xe hai thằng bạn em. Lúc xách túi đồ của thằng Việt, em nghe thấy tiếng lích kích lạ lạ nên hỏi là cái gì thì thằng Việt chỉ cười bảo: "Đồ hành nghề". Trên đường đèo hai anh em nó về, em nhận thấy là thằng Việt có cái gì đó khang khác, về mặt bên ngoài thì không nói làm gì nhưng bên trong nó như toát ra một cái gì đó thật là mơ hồ, không rõ ràng.

    Từ đợt nhà chú S về thì quê cũ nhà em cũng yên hẳn, buổi đêm chẳng còn gì làm người dân sợ được nữa, nhưng trên đất mới thì lại bắt đầu có chuyện. Đó là vào mùa hè năm em còn học lớp 9.

    Hè năm đó là hè em ở lại quê chơi lâu nhất và cũng là mùa hè có nhiều biến động nhất đối với em, từ đây mà em đã phát hiện ra nhiều điều mới về thằng bạn bạch diện thư sinh. Cái này em sẽ post típ vào tối nay, bắt đầu phần 2, phần này tuy không rùng rợn như thời trước nhưng nó là những chuyện em mắt thấy tai nghe ở quê.

    Chuyện thứ mười bốn: Âm binh

    Đợt này về quê, thằng Việt không còn ở trên hiệu thuốc bắc nữa, nó và con em gái đến ở cái nhà 3 tầng mà bố nó xây từ trước. Vài tháng sau, có một ông cũng người Tàu, quê ở Phúc Kiến sang bên này buôn bán thuốc bắc, cạnh trạnh công khai với hiệu thuốc bắc nhà thằng Việt. Lắm lúc lão này toàn qua gây khó dễ cho chú S, mà chú S thì lành tính nên mặc kệ, lão ý chửi thì bảo thợ coi như không nghe thấy gì. Nhưng mà thằng Việt thì tức vụ này lắm, mấy lần nó định tìm lão kia để làm cho ra nhẽ, nhưng em toàn cản lại, chứ nhìn nó còm nhom, trắng như bột thế này, còn lão kia thì béo tốt phương phi, lão mà vả một cái thì thằng Việt chỉ có nước ăn cháo mất. Nhưng lão kia cứ được thể lấn tới, không coi ai ra gì, chú S đã mấy lần báo công an, thôn cũng giảng hòa mà đâu vẫn hoàn đó. Một hôm, em và thằng Việt đang ngồi cán thuốc thì lão kia lại sang chửi, chửi toàn tiếng Trung Quốc, em nghe chẳng hiểu gì hết, nhìn sang thì thấy thằng Việt cũng nghệt mặt ra. Em bảo: "Mày cũng chửi lại nó bằng tiếng Trung đi, cho nó lượn sớm, đau đầu quá." Thằng Việt nhìn em bảo : "Lão này nói đặc sệt giọng Phúc Kiến, tao nghe chẳng hiểu gì thì chửi làm sao?" Đang bực mình, em quay ra chửi một câu :" Con chó Phúc Kiến! Cút về đi!", nào ngờ lão hiểu, mặt tím lại, lao vào đánh em. Em còn chưa kịp phản ứng gì thì thằng Việt đã phi ra, bẻ ngược tay lão rồi giật lại, cho tay lão vào cái dao xắt thuốc, dứ dứ ý muốn bảo lão còn gây chuyện nữa là mất cánh tay đấy. Lão kia liền đổi giọng, rối rít xin lỗi bằng tiếng phổ thông, thằng Việt mới thả ra cho lão đi về. Nhưng lúc nhìn thấy cái nhẫn lão đeo thì thằng Việt tự nhiên khực lại vội kéo em về làng sớm. Trên đường đi, em hỏi sao thì thằng Việt bảo lão ý chẳng phải là bán thuốc thang gì, hình như lão muốn vào đây đào của. Nói rồi nó hỏi em: "Trước lúc bố tao đến thì làng có chuyện gì không?" Em cứ thế mà kể lại cho nó nghe vụ tiếng động lạ kia, nó nghe xong thì nhăn mặt lại. Em hỏi: "Như tao với mày thì làm gì được lão! Mà sao mày biết lão vào đây đào của ?". Thằng Việt đáp: 

    -Cái nhẫn mà lão đeo là nhẫn biểu tượng của dòng thầy pháp Nam tông. Đệ tử nào xuất sư cũng được thầy cho một cái nhẫn gỗ để mỗi khi nhìn vào đó là nhớ về nguồn gốc. 

    Em hỏi lại :
    -Của thì toàn ở trong núi Cô Yêu, nhưng ông K nhà mày đã lập yểm ở đấy rồi mà. Chẳng lẽ lão này cao tay đến thế cơ à.

    Thằng Việt trẻ lời:
    -Chỗ đó thì chẳng đáng lo, nhưng của ở đây không phải là vàng bạc trâu báu mà là một quyển sách của phái Nam tông. Mấy năm ở bên Trung Quốc, lúc đi thăm các nhà thầy pháp cùng nghề thì tao dò được là làng mình trước có một ông thầy giỏi bùa Nam tông lắm, viết hết lại vào một quyển sách, nhưng quyển sách ở đâu thì không ai biết, vậy lên có bao nhiêu thầy dòng Nam tông sang đây mà vẫn tay không quay về. Còn những tiếng động lạ lạ mà hay có buổi đêm đấy thì là tiếng âm binh trấn giữ trong núi đi ra đuổi âm binh của mấy lão thầy Nam tông đấy! Nhưng mà mấy âm binh đó không làm hại gì dân làng mình đâu, tại dân làng sợ không dám ra thôi chứ ra đường vào lúc đó mới là an toàn nhất vì những thứ ma quỷ tạp nhạp bị âm binh đuổi dạt đi hết rồi.

    Em lúc này mới thấy kinh hãi, không phải vì chuyện âm binh mà là vì chuyện sao thằng Việt biết lắm chuyện như thế. Em rụt rè hỏi : "Mày học cả phép phù thủy hả Việt?", thằng Việt đáp: " 
    - Do ông nội tao bắt học vì muốn giữ cái gốc nhà thôi. Tao chẳng muốn học làm gì, vô ích. Cứ cho là tao sau này giỏi gấp mấy lần ông Trấn nhà tao thì đâu thể chắc được là tao sẽ đứng vững trước một viên 46 ( Thằng này nghiện game lắm các thím ợ) 

    Em hỏi vặn :
    - Thế âm binh thì sao, mày gọi một đám ra thì bọn kia chết ngay? 

    Thằng Việt nói:
    - Gọi âm binh đối với tao thì dễ thôi, nhưng mà rất lâu và rất cầu kì, mà có lúc gọi được có lúc không! Đã thế gọi xong còn phải khao nó đủ thứ xôi, thủ lợn, hoa quả tiền vàng, gọi vài phát như thế thì hết cả tiền chơi game của tao.

    Mải nói chuyện, đi về nhà thằng Việt dưới làng lúc nào không hay. May mà sáng nay đã xin trước ông bà cho ngủ lại nhà thằng Việt, không giờ này mà về thì quắn đít mất. Kể sơ qua về cái nhà một chút : Cái nhà nằm ngay sát chân một quả đồi, có tường đá 2m quây kín xung quanh, ở trong đào ao, thả cá, nuôi vài con chó. Đường đi từ công vào nhà là một con đường trải toàn bằng đá cuội. Hai bên cắt tỉa cỏ cây gọn gàng, cây trồng có hàng có lỗi hẳn hoi, đi thêm đoạn nửa thì vào cái sân xi măng. Nói chung là nhìn cái nhà này tách biệt và khác hẳn với những ngôi nhà khác. Vào trong nhà thì chỉ có mỗi con Ngọc Anh ra mở cổng, nhìn thấy em và thằng Việt về nó vui hẳn lên, nhưng chẳng cười tý nào, chỉ líu ríu bám theo thằng Việt. Em cũng hay đến nhà thằng Việt chơi, lâu ngày để ý thì thấy con Ngọc Anh có nét đẹp khác hẳn với những đứa con gái, rất nhẹ nhàng, dịu dàng,bẽn lẽn, nhưng rất hiếm khi cười, có thì cũng cỉ cười mỉm, đi ra ngoài lúc nào cũng bám theo thằng Việt như sợ lạc, lắm lúc thằng Việt bực quá gắt lên không cho đi cũng nữa thì nó vội lùi ra xa, lủi luôn vào trong nhà, nhìn cứ ngộ ngộ thế nào.

    Tối hôm đó ngoài em ra còn có hai một thằng nữa đến ngủ lại nhà thằng Việt, hôm nay ba thằng quyết thức đêm so tài CS xem ai là sát thủ số một. Nhà thằng Việt thì lại có tới 4 cái máy tính, tội gì mà không dùng. Nhưng đêm đó thì bắt đầu xảy ra chuyện.

    Buổi tối, vừa ngồi ăn cơm xong, con Ngọc Anh thì đi rửa bát ở nhà trong, và tất nhiên là ông tướng kia cũng đi theo rửa bát. Còn em và thằng Việt ngồi xem TV ở phòng khách. Đang xem thì thằng Việt hỏi :"H! Mày đã nhìn thấy ma bao giờ chưa?" Em cười :"Chưa nhìn thấy bao giờ nhưng tao cũng muốn xem một lần cho biết mặt ngang mũi dọc nó ra làm sao!" Thằng Việt vỗ đùi đét một cái, bảo: "Mày nói đấy nhé! Thông báo cho mày một tin vui là tối nay tao cho mày xem ma đến chán mắt thì thôi, mà còn nhiều là đằng khác!".Nghe đến đây thì bủn rủn cả chân tay, em thừa biết là thằng này không nói chơi bao giờ. Nhưng vân cố nói cứng: "Tốt! Vậy thì tối nay tao cũng muốn xem thử tài phép của mày". Hai thằng đang nói chuyện thì thằng D ở nhà trong ra, hỏi :"Chúng mày nói xấu gì tao mà xì xầm từ nãy đến giờ thế?" Em vội giấu nhẹm đi bảo: "Đang tính kế để tối nay úp sọt mày bằng 43!" Thằng D vênh cái mặt lên: "Tao chấp nửa mắt!", nhìn cái mặt vênh vênh của thằng D mà em lại càng không dám hé ra cái gì cho nó, ai chứ ông tướng này thì nhát chết có tiếng, năm lớp 8 chỉ mới nhìn thấy cái tay áo rách trên cành cây thôi mà nó gào vang làng, líu cả lưỡi lại kêu có rắn lục trên cây vải.

    Đến đêm hôm đó thì tự nhiên mất mạng, chẳng vào bắn CS được, mà mạng Lan thì chập chờn. Thế là cả 4 đứa đều ra ngoài hiên ngồi chơi. Thằng Việt đưa mắt cho con Ngọc Anh, nó biết ý liền bảo thằng D đi vào trong giã thêm muối ớt để ra chấm xoài, thằng D đi ngay lập tức. Còn em và thằng Việt ở ngoài, thằng Việt nhanh tay rút trong túi áo ra hai cái lá, nó chích một giọt máu trên tay em và một giọt trên tay nó, nhỏ lên hai cái lá rồi xoa hai cái lá vào nhau, mồm lầm rầm đọc cái gì đó. Xong rồi nó bảo : 
    - Bây giờ mày sẽ nhìn được từ giờ đến lúc gà gáy thì hết. Nhưng mà nhìn thấy gì cũng không được hét, không được nhìn chằm chằm, phải coi như mình chẳng nhìn thấy gì hết.

    Đến chừng 11h đêm thì em bắt đầu nghe có tiếng rục rịch, ầm ào phát ra từ trong núi. Nhưng nhìn sang thì hình như thằng D chẳng biết gì, vẫn vô tư ăn xoài, cười nói sảng khoái. Con Ngọc Anh thì như nghe được, chỉ có điều là nó không lộ ra, có vẻ như nó đã quen với chuyện này. Thằng Việt ngồi dịch ngang hàng với em, khẽ nói : "Tới giờ xem phim mày ơi!" Em nghe thế mà lạnh toát cả xương sống, nhưng cũng an tâm phần nào vì có anh em nhà thằng Việt ở đây, con nhà tông không giống lông cũng giống cánh, kiểu gì chúng nó chả có cách, mà con Ngọc Anh còn bình tĩnh thế kia thì chẳng lẽ mình lại không bằng nó. Rồi em lại nhìn sang thằng D, ông con giời kia vẫn điềm nhiên ngồi ăn xoài, bốc phét lên mây. Thằng này đúng là bạn tốt của em nhưng chỉ có điều là nó vẫn ngô nghê, không hay biết chuyện gì xảy ra. Đang ngồi nghĩ vẩn vơ thì con Ngọc Anh lây cái PSP ra cho ku D nghịch, thằng D vẫn cứ hồn nhiên bấm bấm. Được chừng 15' thì Ngọc Anh quay sang bảo em : "Anh H ngồi yên nhé! Đến rồi đấy!" . Nghe giọng nói trong vắt mà em đứng người, quên luôn cả sợ. Cả ba cũng nhìn ra đường cái, em suýt nữa hét lên khi thấy một đoàn người ngựa, giáp phục ngày xưa chạy ào qua cổng, sau đó là tiếng hô hào, quát tháo và tiếng đánh nhau. Thêm một lúc nữa thì trong vườn và sân nhà thằng Việt lắm điều quái dị xảy ra. Đầu tiên là một vài cái bóng con con, đỏ lừ nhảy loi choi khắp sân, sau đó là một cái đống đen đen như tổ mối cứ đùn dần lên ở góc sân. Thằng D lúc này đã thôi không chơi PSP nữa mà chuyển sang nghịch cái lap Hitachi của thằng Việt. Nhìn chỗ nó ngồi mà em kinh hãi, lạnh run người. Có một đứa bé sơ sinh đỏ lừ như than hoa cháy, đang ngồi trên vai thằng D, sau lưng nó là một đứa con gái chừng 11, 12 đang nghịch tóc thằng D. Nhìn lại xung quanh thì em thấy chỉ có mỗi thằng D là bị trêu, còn em với thằng Việt, Ngọc Anh thì vẫn bình thường. Đến chừng 1h sáng thì con Ngọc Anh kêu buồn ngủ rồi đem chăn xuống cho bọn em, còn nó thì lên phòng nằm. Đêm hôm đó em thức luôn tới sáng, thằng D thì ngủ say như chết, thằng Việt thì ngủ như thường. Kể từ dạo đó em sợ ma hơn hẳn. Buổi đêm về quê cứ nhìn quanh quất, dè chừng. Không biết liệu có đứa nào vuốt tóc mình không.

    Sáng hôm sau, em lên khu nhà ông em thì phát hiện ra một chuyện kì lạ, nhà bác B không biết tối qua nhờ ai làm giúp mà đến sáng nay đã cuốc xong thửa đất trồng khoai rồi, mà chỗ đất ấy rộng đến 4 sào, có nhờ người cũng chẳng làm nhanh được đến thế, giờ dân làng đang xôn xao lên vì cái chuyện này.

    Chuyện thứ mười lăm: Vật cũ lại gây họa

    Hôm sau về, thấy cả làng đang đồn ầm lên vụ bác B. Lạ một điều là bác B vốn không vợ con, người thân thì đã chết sạch trong chiến tranh, không hiểu bác nhờ ai mà chỉ trong một đêm đã cuốc xong 4 sào đất. Đến vài tuần sau, người ta lại xôn xao lên vì bác B lắm tài phép chẳng thua gì mấy ông phù thủy ngày xưa. Có hôm, đi ra ngồi chơi ở bờ hồ, bác gấp một cái thuyền giấy rồi thả xuống nước, thế là thuyền giấy cứ ngược gió đi vù vù khắp hồ. Mà bác lại còn biết giải hạn, nhốt trùng, đuổi vong,… toàn là trò bùa chú. Những thanh niên, bộ đội trong làng thì không tin, cho là mê tín dị đoan, trò bịp để lừa đàn bà với trẻ nít, nhiều anh ghét bác B lộ ra mặt. Bỗng một buổi tối, có anh C, chị M đi hò hẹn nhau về, đi đến bụi tre gần đánh đồng thì bắt gặp bác B đang đứng một mình trên bờ ruộng. Hai anh chị vội núp vào sau bụi tre xem ông "giả thần giả thánh" giở trò gì. Họ chỉ thấy bác vứt một cái gầu đôi xuống ruộng, rồi cầm hương đốt lên, mồm lẩm bầm cái gì đó, một lúc sau thì có tiếng bác B nói như quát: "Đêm nay tát ngập viên đất này thì xong!" , đoạn bác B ném một cục đât to chừng viên gạch đúc xuống ruộng rồi đi về. Sau đó chẳng thấy có ai cầm mà cái gầu cứ tự đung đưa, tát nước bòm bõm vào trong ruộng. Anh C, chị M thấy vậy thì lủi luôn về, không dám kêu lấy một tiếng. Sáng hôm sau, mấy người đi làm đồng sớm cứ xầm xì huyên náo cả lên, lúc đó trời vẫn còn tối không rõ mặt người, có một nhóm đi qua thì cứ thấy hai bóng đen tát nước vào ruộng nhà ông B, nước đã đầy tràn mà vẫn không nghỉ. Mãi đến tận trưa thì một người bảo :"Ô hay! Nước tràn ruộng rồi mà sao còn tát vậy?", một người khác thì lại nói :"Đằng kia có cục cứt bò khô đang nổi lềnh phềnh kìa! Hay là chúng nó lấy cái đó làm mốc?". Nói đoạn cả đám cười ồ lên, cười chưa dứt thì cái gầu bị ai ném đánh ùm xuống nước, rồi có tiếng gằm ghè vang từ trong núi ra. Đêm hôm đó, mấy nhà hàng xóm xung quanh bất ngờ tỉnh giấc bởi tiếng hét từ nhà bác B, sau đó là tiếng lạy lục, van vỉ. Mọi người vội chạy sang thì thấy bác B đã nằm đó, máu tai, máu mũi cứ chảy ra ồ ồ, mồm sùi bọt mép, người giật lên giật xuống, tất cả xúm vào cứu mà không kịp. Bất chợt, từ ngoài cửa sổ có ai ném nguyên cái bát hương vào cạnh xác bác B, tro nhang bay tung tóe, tất cả cùng đồng loạt nhìn ra cửa sổ thì thấy một bóng đen sì đang đứng ngoài nhìn vào, quát chửi mấy câu bằng cái giọng è è khó nghe, rồi đi mất. Tay bác B lúc này vẫn đang ôm chặt cái hòm gỗ. Sau khi tang lễ, mọi người phá khóa, mở cái hòm gỗ ra xem thì thấy trong hòm trống trơn, ai cũng băn khoăn không biết cái vật trong hòm là gì mà bác B giữ kĩ vậy.

    Bẵng đi một vài tháng, trên chỗ đất mới lại có chuyện. Anh T, con nhà bác C và rất nhiều người nữa kêu cái cây phượng ở cổng nhà ông em có ma.Cơ mà ông em không tin, cho đó chỉ là lời đàm tiếu. Thế rồi một đêm, lúc em ngủ lại nhà ông. Đêm đó, em trằn trọc mãi không ngủ được, mãi đến 1h sáng mới thiu thiu ngủ được một lúc. Đang nằm thì em thấy hơi ren rét, thế là em lại thức dậy, đóng cửa sổ lại. Nhưng vừa quay ra thì em giật mình, nhảy lùi một phát từ trên giường xuống dưới đất. Phía ngoài cửa sổ là một người mặc đàn ông mặc áo gấm kiểu ngày xưa, tóc xõa bù xù, lưỡi thè lè đang nhìn em. Không hiểu sao lúc đó em tỉnh táo vô cùng, nhớ đến cái vòng thằng Việt cho, em liền giật ra, giơ lên trước mặt. Cái kia vừa nhìn thấy thì quay đầu chạy luôn, đến gốc phượng thì mất. Thế là em ra ngoài phòng khách thức luôn, không dám bước lại vào trong buồng, ông em thấy động cũng dậy, ngồi nghe em kể xong thì ông ngồi luôn đấy với em đến tận sáng. Sáng hôm sau, ông em cho người cưa luôn cây phượng, mấy người đứng xem bảo lúc cưa thì thấy có tiếng kêu oái oái, rồi máu chảy ra từ vết cưa, nhưng ông em cứ cho cưa tiếp, cưa xong thì tiếng kêu cũng dứt. Chiều hôm đó, em sang nhà thằng Việt chơi, nó thấy cái vòng có vết nôi lại thì hỏi sao, em cũng kể lại chuyện tối hôm qua. Thằng Việt nghe xong thì im lặng một hồi rồi nó lấy 6 đồng xu ra bói quẻ. Bói xong thì nó liền lấy cái túi đồ rồi kéo em đi ra chỗ gốc phượng. Đến đó, em với nó lấy từ trong túi ra một nắm gạo nếp và muối, rắc xung quanh cây, sau rồi thằng Việt đốt một nén nhang khấn rì rầm mấy câu, đốt thêm một lá bùa bình an màu đỏ, lại đốt bảo em phải tự tay đốt thêm 2 xấp tiền vàng. Em vừa đốt xong thì gió thổi ào ào, cây cối đung đưa dữ dội. Một lúc sau thì gió ngưng, thằng Việt bảo em đi về. Cất đồ xong thì hai thằng ra ngồi ở cái võng ngoài hiên. Em hỏi nó về chuyện vừa này thì nó trả lời :

    - Hồi chiều tao bói cho mày liền ba quẻ, toàn là quẻ Đại Hung, sau tao lại bói thêm một quẻ nữa để tìm lai lịch của con ma đó. Tao truy ra được đó là con ma Tam Bảo, sống từ đời Nguyễn. Sau vì uất ức chuyện thi cử nên thắt cổ tự vẫn, chết xong không siêu thoát được nên cứ ám ở đấy mãi, đêm qua nó thấy mày hợp vía, lại được ngày rằm nên định bắt mày thay rồi đi đầu thai. Nhưng may sao mày lại nhớ tới cái vòng tao cho nên nó chưa làm gì được. Rồi ông mày lại chặt mất cái cây trú thân của nó nên nó thù mày, định tối nay bắt mày cho bằng được. Nhưng yên tâm, vừa nãy tao siêu độ xong rồi, mày cũng đốt tiền vàng tỏ thành ý nên không sao nữa. 

    Sau rồi, thằng Việt lại còn dặn em thêm một lô lốc những điều cần tránh mỗi khi vào đền chùa miếu mạo, bãi tha ma. Rồi cả cách nhận biết chố nào lắm oán khí thì tránh đi cho khỏi mang vạ vào thân.

    Vài hôm tiếp theo, hôm nào em cũng cùng thằng Việt và Ngọc Anh đi chơi. Con bé đó vẫn ít nói, chỉ toàn nấp sau lưng thằng Việt mỗi khi có người lạ. Nhân lúc chỉ có hai đứa, em mới bắt chuyện, hỏi Ngọc Anh sao không chịu chơi với bọn con gái trong làng thì nó cứ im im chẳng nói gì, chán rồi em kể chuyện cười cho nó nghe nó cũng vẫn cứ trơ ra đấy, thỉnh thoảng mới mỉm cười một cái. Lúc thằng Việt đi ra, thì Ngọc Anh vào luôn trong nhà, thấy em khổ sở như vậy thì bảo :

    - Mày nói chuyện với nó thì ngang vào nói chuyện với đầu gối. Nhưng mày cũng giỏi là làm cho nó cười được, từ trước đến giờ tao rất hiếm khi thấy nó cười được một cái. Tính nó vốn nhút nhát, lại toàn sợ người lạ, tao rèn cho bao lâu mà vẫn mèo lại hoàn mèo.

    Đang nói chuyện thì nghe ngoài sông có tiếng huyên náo, ba đứa liền chạy ra xem. Ra đến nơi thì mới biết là có con trâu mộng của nhà ông V đang thả cho đầm ở bờ sông thì tự nhiên thụt xuống sông mất hút. Bọn trẻ con trăn bò và người câu cá đều bảo là con trâu vừa thụt xuống thì thấy đằng xa có sóng lạ lắm.

    Chuyện thứ mười sáu: Lươn cộ (Tiếp)

    Vài ngày sau cái vụ con trâu nhà ông V bị kéo xuống nước thì dân làng đề phòng ghê lắm, không cho trâu ra đầm mình ngoài hồ nữa. Trẻ con cũng bị cấm tiệt không cho ra hồ nghịch. Thế nhưng, những nhà thả dê trong núi thì lại bắt đầu kêu mất dê, có người bảo thấy vết chân dê đến sát mép hồ rồi có vệt đất bùn trượt dài xuống nước, ai cũng cho là do cái thứ đã kéo con trâu xuống làm chuyện này, cơ mà trâu một hai con thì còn trông được chứ vài trăm con dê thì ai mà trông cho xuể, nó lại còn nhảy nhót, chạy như dê rừng, muốn xua ra chỗ khác thì cũng mệt, mà xua được vài ba chục con là cùng chứ gì, xua chỗ này nó lại ra uống nước chỗ khác, chẳng biết đâu mà lần. 

    Nhưng mà bị mất dê thì dân ức lắm, ngày đêm suy tính xem làm cách nào để trừ được cái thứ kia đi, không thì dọa cho nó sợ mà bỏ đi cũng được, nhưng mà mặt ngang mũi dọc nó ra làm sao thì chẳng ai rõ. Mãi cho đến một hôm, mấy ông nhà thả dê trên núi sau khi xem xong cái phim Hàm cá mập thì nghĩ ra một cách rất thâm là sẽ lấy một con dê ra làm mồi nhử, trên người con dê cho đeo đầy dây cước bện nối với móc sắt, rồi lại nối thừng buộc phuy nhựa cứng vào quanh con dê, người thì cầm súng, lưới móc sắt, thuốc nổ ở trên bờ chầu sẵn, thế này thì có mà chạy đằng trời. Liền ba bốn ngày sau, đàn ông trong làng háo hức chuẩn bị cho cái chiến dịch thông minh đó, bon choai choai trẩu tre như em cũng đi theo xem cho biết. Đến đúng thứ tư bảy tuần đó thì chuẩn bị xong, lại được ngày trời trong, dễ quan sát, một đán gần năm mươi người lên núi chỗ sông chảy ngầm, và tất nhiên em và thằng Việt cũng đi cùng. 

    Đầu tiên là phải thả con dê ra sát mép nước, rồi chờ cái thứ kia cắn câu. Chờ đến buổi trưa thì ai cũng nản, được một lúc nữa thì anh D bấm mấy người, cả đám vội cúi xuống nấp, chăm chú nhìn xuống nước. Ngay lập tức tất cả im bặt không nói được một lời, phía dưới nước là một cái bóng đen mờ mờ, dài ngoằng như con trăn 40 năm, đang nhẹ nhàng bơi từ phía khoảng ngầm ra chỗ con dê. Rồi ùm một cái, con dê mất hút dưới nước, dây nối với phuy nhựa rút ào ào xuống, đúng như kế hoạch, phuy nhựa không chìm được, cứ bị kéo lên xuống như cái phao. Ngay lập tức, một nhóm ra thả lưới móc sắt chặn cửa vào khoảng ngầm lại, rồi trên cây thì súng lên nòng sẵn chỉ chờ khai hỏa. Bỗng nhiên, cách bờ 6m thì con kia nhô lên, người cuốn mấy vòng quanh con dê, vật lộn điên cuồng tìm cách xoắn đứt mấy sợi thừng. Bây giờ tất cả mới nhìn rõ con kia không hải là trăn mà là một con lạ, da nó không có vẩy mà trơn nhẫy, bóng láng, phía dưới bụng còn có diềm vây. Bất ngờ, một người trên cây hô : "Tất cả bắn!", hơn 20 khẩu súng săn đủ loại đồng loạt giương lên bắn thằng vào chỗ "con lươn". Lúc đó em vì nhìn điềm tĩnh chín chắn hơn lũ bạn nên cũng được phát cho 1 khẩu hai nòng cũ, còn đang ngơ người ra chưa bắn thì ông bác bên cách gào to vào tai em kêu bắn đi., lúc này em mới tỉnh ra, kề súng lên vai, hít một hơi thật sâu rồi :"Đoành!", khẩu súng giật lại mạnh quá làm em ngã lăn ra đất, vừa ngồi dậy thì lại gượng bắn tiếp 2 phát nữa rồi chịu, phải đưa súng cho một chú khác (Cả 3 phát bắn thì mình trúng có một, lại còn trúng vào phuy nhựa thì phải, giờ mới thấy thế nào là Ngu dốt + Nhiệt tình = Phá hoại). Bây giờ nhìn kĩ lại thì em mới thấy rõ là con lươn kia đã trúng vài phát đạn mà vẫn còn khỏe lắm, quấy nước bắn tung tóe, thằng Việt thì đang cầm khẩu hai nòng vừa nãy, cứ ngắm mãi mà không bắn, rồi bất chợt nó bắn một phát trúng ngay bên sườn con lươn, lại một phát nữa sượt qua vây rồi đưa khẩu súng truyền cho một ông khác. Em thấy thằng Việt bắn giỏi thì hú ầm lên, khen lấy khen để, mấy ông đứng xung quanh cũng xúm vào lắc vai khen giỏi. Bỗng nhiên, mặt nước im lìm, hình như là con lươn đã đuối sức chết rồi. Mấy người đứng trên mội chạy xuống xem thì anh L thợ săn vội giơ tay ra hiệu đứng lại, cả đám người cung im lặng theo dõi mặt nước. Chợt nghe tiếng oạp một cái, cả con dê lẫn mấy cái phuy nhựa bị quăng vèo lên bờ, mấy ông trên cây vội tút xuống, kêu mọi người ra xa rồi cho nhóm ném mìn vào. Một ông đứng trên tảng đá cao kêu lên : "Nó đang phá lưới sắt mấy ông ơi!", tất cả nhìn ra thì thấy phần lưới sắt hở trên bờ đang rung lên dữ dội, ông đứng trên tảng đá hét lên: "Nó bơi lại lấy đà kìa! Ném mìn đí! Tất cả nằm xuống!". Cả đám vội nằm rạp xuống đất, hai quả mìn được ném ra : "Oành! Oành!", tiếng nổ đinh tai nhức óc, nước bắn tung tóe lên tận chỗ mọi người, mùi tanh ngòm. Tiếng hô lại vang lên :"Nó vẫn sống! Ném tiếp đi!", hai quả mìn nữa được ném xuống, một lúc sau thì không thấy tiếng hô nữa, mặt nước cũng ngớt xao động, Tất cả reo ầm lên, vỗ vai, chúc mừng lẫn nhau, giờ nhìn lại mấy ông phục trên cây thì thấy quần áo, đầu tóc ướt nhẹp nước với máu, người tỏa ra một mùi tanh lợm mửa. Có một ông nói : "Thế lúc nãy các ông có nuốt hay hít phải cái máu không?", mấy ông kia bảo không thì ông này vội ra chỗ để đồ lấy ra mấy bọc bông với tăm ngoáy tai, bảo mấy ông kia xì mũi rồi thấm hết sạch máu trong tai với mũi đi, sợ máu con này có độc, nó mà vào óc thì giời cứu. Xong rồi tất cả quây một cái màn rồi thay phiên nhau vào tắm nước lá do mấy bà ở nhà đem lên đây đun cho đám đàn ông tắm để trừ sạch âm khí. Tắm xong, mỗi người lấy hai cái bánh mì dằn bụng, từ sáng đến giờ đã ai có gì bỏ vào bụng đâu. Đang ăn uống, nói cười vui vẻ thì tự nhiên thằng Việt, vứt chai nước xuống đất, kêu : "Hỏng mất rồi!", rồi nó hối mấy ông ra kéo tấm lưới móc lên, vừa kéo lên thì tất cả bàng hoàng: Tấm lưới đã bị thủng một lỗ to tướng từ bao giờ, trên móc vẫn còn dính mấy miếng da trơn bóng. Cả đám ngồi đó thần người ra một lúc, giờ mới biết là con lươn nó giả chết, lặn ngầm xuống dưới phá lưới, ra là mình bằng này tuổi rồi mà không khôn được hơn con lươn, vài người lên tiếng an ủi bảo nó đã sợ rồi thì không dám quay lại nữa đâu, mà các cụ bảo cái cửa ngầm này thông ra biển, chắc nó từ biển vào thì giờ lại chạy ra biển thôi. Em cũng nghĩ là vậy, từ hồi đó đến nay không thấy nó quay lại, dân làng cũng yên ổn thả cá, nuôi tôm trên sông. Giờ đây, mỗi lần về quê, nhìn xuống mặt sông phẳng lặng, em lại nhớ đến những ngày sóng cồn hãi hùng trước đây.

    Chuyện thứ mười bảy: 
    Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh

    Hết hè năm đó, em lại trở về Hà Nội hoa lệ tối ngày ồn ào tấp nập, lúc nào cũng sáng ánh điện, chuẩn bị nhập học vào 10. Năm lớp 10 cũng chẳng có gì đặc biệt, ngoài cái việc em bị đá thằng cẳng. Nhưng thôi không nhắc lại làm gì vì nó chẳng có quái gì cả. Đến hè, lòng nặng trĩu, em về quê chơi luôn 3 tháng, nghỉ luôn cả học hè. 

    Chính xác là vào ngày 4-6 thì em về tới quê, chú và cô em lên tận bến xe đón, hai anh em nhà thằng Việt cũng đến. Nghỉ ngơi một đêm rồi hôm sau em lại về cái nhà cũ dưới quê ở, cũng chẳng muốn gặp họ hàng vì sợ nghe hỏi: "Thế năm nay đã tăm tia được cô nào để chúng tao bồng cháu chưa nào?"

    Trên đường đèo em về quê, thăng Việt tự nhiên bảo : "Tiếc làm gì con bé đó hả H ? Nó không xứng đâu! Về đây tao dẫn mày đi chơi bét nhè thì thôi!". Em mới giật mình hỏi: "Sao mày biết?", thằng Việt đáp : "Hai hôm trước khi mày về tao có bói một quẻ để xem mày có nên về quê không thì thấy của Tình của mày ra quẻ Hung còn cửa Xuất Hành thì ra Đại Cát nên tao mới giục mày về kẻo lỡ ngày tốt!" . Nghe vậy thì em cũng vơi đi phần nào, dù gì thì mình cũng còn những thằng bạn sống chết không bỏ. Đến chừng 9h sáng thì về đến quê cũ, em mở của vào nhà rồi hai thằng quét dọn lau rửa lại tất cả. Làm xong thì cũng đã 11h, thằng Việt vội về nhà xem con em học hành ra sao, năm nay em nó cũng thi vào 10. Thằng Việt đi được một lúc thì em nhớ ra là chưa có gì thắp hương các cụ nên chạy ra đại lý nhà bà N mua ít vàng hương, chọn thêm vài quả táo, quýt và một quả dưa hấu 2 cân. Về đến nhà, vừa thắp hương, khấn xong thì tự nhiên em thấy lạnh gáy rồi nghe có tiếng đàn ông sau lưng : "Về chơi bao lâu hả cháu?", em quay phắt người lại nhìn nhưng cả gian phòng trống không, chỉ có mỗi mình em. Em nghĩ là bác P nhà bên thấy em về nên sang hỏi thăm, vội chạy ra sân tìm nhưng chẳng thấy ai, xuống bếp xem cung không có, ngó sang mấy nhà hàng xóm xung quanh thì vẫn còn đi làm đồng chưa về. Lúc đó cũng chẳng thấy sợ hãi gì, em ngồi lấy cái Lap ra nghịch tý, rồi ra nhà cháu ông T đầu làng mua ít thịt xá xíu với âu canh cua và đĩa rau muống về ăn cơm. Vừa định xới cơm ăn thì em sực nhớ ra điều gì, liền xới 3 xới cơm vào 3 cái bát, mỗi bát một xới, xuống bếp luộc thêm 2 quả trứng, bóc vỏ rồi lấy thêm ít gia vị, múc thêm 2 bát nước lọc, lại đi mua thêm 1 đĩa thịt quay, để tất cả ngay ngắn lên ban thờ, thắp hương khấn các cụ về ăn cơm với cháu. Ăn xong uống xong xuôi, được mọt lúc thì hương hết, em khấn xin rồi lấy hoa quả, thức ăn xuống, đậy lồng bàn lại rồi đi rửa bát. Đến chiều thì em với thằng Việt đi chơi, tối về nhà cũ ăn cơm rồi nó đem lap sang ngồi bắn CF với em. Chơi mãi thua nhiều hơn thắng, em đi ngủ. Sực nhớ ra trong buồng có cái giường tầng kiểu bộ đội để trong đó, em với thằng Việt tranh nhau nằm tầng trên, thấy nó nằm thích nằm tầng trên em cũng để cho, tao xuống tầng dưới, ngủ trên đấy mày có lăn xuống đất thì đừng than khổ nhé. Đang nằm nghịch lap thì thằng Việt nói vọng xuống : " Ê H! Tao đó mày một câu nhé, mày trả lời được thì mai tao dẫn mày lên núi xem cái này hay lắm!"
    Em đáp :
    -Thoải mái đê con giai! Anh trên thông thiên văn dưới tường địa lý. Có cái gì mà không biết!

    Thằng Việt bắt đầu đố: 

    - Thủ đô của Bungari tên là gì ? - Sofia.
    - Nhật Bản có mấy đảo chính ? - 4 đảo là Hokkaido, Honshu, Shikoku và Kyushu
    - Thế Chiến thứ hai bắt đầu vào năm nào và kết thúc năm nào? - Từ 1939 đến 1945.
    - Thằng này giỏi, bây giờ mày trả lời được câu cuối thì mai tao dẫn đi.
    - Luôn đi cho nóng! 
    - Chỉ được trả lời trong 3s thôi nhớ!
    - Nhanh lên, hay mày co vòi rồi không dám đố nữa
    Thằng Việt liến thoắng : - Con gì hay nằm dưới gầm giường chủ?
    Em đốp luôn: - Con chó chứ còn con gì, thế mà cũng….
    Nhận ra ngay là mình nói hố, em gầm lên, vớ cái chổi đập bùm bụp lên chỗ nó. Thằng Việt vẫn cười sằng sặc như không biết đau. Em mới chọc cái cán chổi lên thì thấy mềm nhũn, hóa ra nó tính trước nên lót chăn xuống dưới săn rồi. Hai thằng chí chóe nhau mãi đến 11h mới ngủ, thằng Việt ngủ trước em, ngáy như sấm. Còn em thì một phần vì nghĩ đến chuyện con kia, một phần vì tiếng ngáy của ông con giời trên kia nên cứ quay ngang quay dọc mãi, nằm một lúc thì em mơ mơ màng màng, hé mắt ra nhìn thì thấy hai bóng đen sì đứng ở đầu giường nhìn em, em biết là bị bóng đè nhưng nhìn lại thì vẫn cửa động tay chân bình thường, chỉ không nói được thôi. Hai cái bóng nhìn em một lúc rồi đi ra ngoài mất luôn. Em thấy ghê ghê nhưng cũng mặc, chùm kín chăn ngủ đến sáng.

    Sáng hôm sau, còn đang ngủ thì thằng Việt đạp phát vào ass em, hét ầm nhà : "Dậy! Dậy đê con chó đê tiện!". Em ngái ngủ hỏi dậy sớm làm cái gì, thằng Việt bảo : "Thế mày không định vào núi xem hả? Hôm nay thăng D đi cùng đấy". Bây giờ em mới lôm cồm bò dậy, hóa ra là tối qua nó kêu thật. Hai thăng đang đánh răng rửa mặt ngoài bể nước, thăng Việt đánh răng xong trước, hỏi em : 

    - Tối qua ai tìm mày mà cứ đứng mãi ở đầu giường thế? Tao thấy không có ý xấu gì nên cũng không cản lại.

    Em giật mình đánh rơi luôn cái ca nhựa, thảng thốt :
    - Thế tối qua mày vẫn chưa ngủ à! Tao thấy ghê ghê định gọi mày mà không mở mồm ra được, cơ mà tao cũng chẳng thấy sao, lúc sau lại ngủ.

    Thằng Việt đáp:
    - Tao đang nằm ngủ thì tự nhiên thấy góc phía bắc vườn nhà có khí âm vào, tao bấm độn xem thử thì thấy không có ác ý gì nên cũng không chặn lại, thấy hai người đó cứ đứng nhìn mày nói xì xầm cái gì mà cháu nhà tôi trên thành phố về đấy, với lại hôm nay nó còn mời cơm tôi. Mày không nghe được gì hả ?

    Em quạu lại, kêu :
    - Thế mày nghĩ ai cũng như mày hả thằng lợn này! Lần trước ở sân nhà mày tao tí nữa vãi ra quần rồi, giờ tao cạch không có nghe nhìn gì ma quái hết! 

    Thằng Việt cười cười, vênh mặt lên :
    - Ở đời mấy ai tài phép như anh! Mày cứ yên chí là có tao đây thì chẳng có đứa nào dám động vào mày cả, thằng nào bố láo tao dí cho cái bùa để đau bụng nôn mửa vài tuần cho biết mặt! 

    Em nghe nó nói vậy mà khiếp, thằng này nó coi nghề phù thủy còn hơn đồ chơi. Mà kể cũng phải, nó vốn có thiên bẩm cái nghề này, chẳng qua vì nó thích học CNTT hơn, lại không muốn bị gò ép nên cũng chẳng mặn mà gì với nghề.
    Hai thằng đánh răng rửa mặt xong thì đi ăn sáng, ăn xong thì sang đón thằng D rồi tạt qua nhà thằng Việt lấy đồ. Trên đường đi, em đánh bạo hỏi nó : 
    - So mày với ông K thì ai giỏi hơn ai ?

    Thằng Việt suy nghĩ một lúc rồi đáp :
    - Nếu so về kinh nghiệm, cơ trí thì ông Trấn hơn tao nhiều. Còn so về cái vốn hiểu biết, tài năng nghề thì tao nhỉnh hơn ông một chút.

    Em giờ mới thấy thằng Việt quả là đúng là thiên tài bầm sinh, hay như dân Tàu vẫn gọi thì là "kỳ nhân xuất thế". Chẳng những nó giỏi nghề phù thủy khi còn rất trẻ, mà về những thứ như CNTT, cơ khí , hóa vô cơ, kiến trúc nó cũng giỏi ít ai bì kịp. Con người thằng Việt như một sự dung hòa giữa sơ khai và hiện đại. Mải nói chuyện thì đã đi đến nhà thằng D. vừa gọi là nó ra ngay, đem liền theo 6 cái đèn pin xách tay và ba con dao đi rừng. Em biết là dao đi rừng thì cần nhưng đèn pin thì làm gì, hỏi thì hai thằng kêu bí mật. Sau khi đi đến nhà thằng Việt lấy đồ xong, phân chia ra em mang balo thức ăn, nước uống, thằng D mang đèn pin, mở đường đi trước, thằng Việt thì vác túi đồ nghề của nó. 

    Đi từ 6h sáng, bọn em băng liền 4 cây số đường rừng vào trong một quả núi. Đường đi cũng chẳng rậm rạp gì cho lắm, có vẻ như hai thằng này đã đi trước em vài hôm, phạt sẵn cành rậm mở đường rồi. Đi mãi đến chừng 7 rưỡi thì bọn em tới trước một quả núi xanh rì, hình như chỉ có mấy người đi lấy củi hay bắt tắc kè là mò đến đây. Thằng Việt vội kêu dừng lại. Rồi nó lấy trong túi ra một cái áo cánh hạc của đạo sĩ và một thanh kiếm gỗ, tay cầm một cái trống bỏi. Nhìn nó lúc này trông dị hợm vô cùng, quần thì quần bò, đội cái mũ kiểu cao bồi, , chân đi giày leo núi, người còm nhom mặc cái áo choàng rộng lùng bùng.
    Rồi nó rút 3 que hương đốt lên rồi khấn lầm rầm, tay bắt quyết, xong đưa cho em với thằng D mỗi đứa một cây, bảo bọn em cùng nó vái ba vái , xong rồi căm 3 que hương xuống cạnh đường. Xong xuôi tất cả, ba thằng cứ men theo đường cũ mà lên, thằng D và thằng Việt đã dọn đường đi trước nên lên cũng dễ, quả núi lại dốc thoai thoải nên không mệt lắm. Đi lên đến lưng chừng núi, đập vào mắt em là một cái hang động to vô cùng, cửa động phải rộng đến 30m, cao gần 12m là ít. Rồi bọn em mỗi thằng cầm một cái đèn pin, tay cầm con dao đi vào, riêng thằng Việt thì tay cầm kiếm gỗ đi trước. 

    Trong động tối om, 3 ánh đèn pin 6V10 mà như bị nuốt chửng trong màn đêm dày đặc. Đi được chừng 15' thì chân em như quyệt phải cái gì bằng kim loại. Em vội soi đèn xuống thì thấy dưới đất là một cây thương rất đẹp,làm bằng thép óng ánh xanh, trạm chổ rất tinh vi, ngù thương còn làm một con rồng bằng bạc há mồm , mũi giáo từ trong mồm nó nhô ra, thân con rồng cuốn từ ngù thương xuống tận phần ba cán . Quả thật là từ bé đến giờ em chưa thấy món vũ khí nào đẹp đến như vậy, mà em vốn ham mê võ nghệ, lại thích dùng thương, giờ mà có cậy thương này làm vũ khí thì còn gì bằng. Bên cạnh thì thằng D cũng ồ lên một cái, nó đang xăm xoi một cây kiếm cực đẹp, cán là một con giao long cuốn quanh, lưỡi kiếm mỏng dính như thanh Kim Xà Kiếm trong Kim Dung ý các thím ợ. Em vội bảo thằng D bật hết công suất đèn lên soi, đèn vừa bật lên thì hai thằng cũng kêu lên, xung quanh bọn em như một kho vũ khí trong phim luôn, cái nào cũng có, từ quạt sắt, song kiếm, họa kích, búa khai sơn đến cả chủy thủ, nhuyễn tiên, trường chùy, nhìn cái nào cũng tinh xảo vô cùng, mà xem chất thép cũng biết là sắc bén hơn đồ thường, toàn vào hàng cực phẩm cả. Nói thật là từ thưở bé đến giờ em chưa bao giờ nhìn thấy đâu có nhiều thứ quý giá có một không hai thế này, mắt em cứ gọi là sáng lên phải biết, chỉ muốn vơ cả cái hang này về. Em với thằng D vừa định thò tay xuống nhặt vài món thì thằng Việt đằng xa quát to một tiếng, tay hai thằng chỉ còn cách vũ khí chừng vài li thì đồng loạt rụt lại. Em với thằng D quay ra vặn thằng Việt : 
    - Sao mày không cho bọn tao lấy, mày không thích mấy cái này thì thôi chứ.

    Thằng Việt kêu:
    - Toàn là của báu thì ai mà chẳng thích, tao cũng muốn bê cả cái động này về lắm chứ, nhưng chúng mày vào đây mà xem này.

    Hai thằng hậm hực đi theo, bên trong là một bức tường viết chữ Nôm với chữ Hán, thằng Việt dịch đoạn chữ Hán : "Của cải đầy trong này, ai muốn lấy thì cứ việc! Chúng tôi xin xưng thần ". Em với thằng D thì loay hoay dịch bên chữ Nôm, chữ em biết thì thằng D không biết, chữ em không biết thì nó biết, sau khỉ khổ sở ghép từ lại thì mặt hai thằng tái nhợt đi : " Mãn Châu bất tín, đặt bẫy dụ lính, lại để đồ quý có yểm bùa. May nhờ phúc thánh thượng, đô đốc về dẹp được, đuổi được,……..(đoạn này bị mờ nên không đọc được)….. ai có vào thì tránh đi đừng tham mà mất mạng. Thằng Việt chỉ dịch được đoạn chữ Hán, nó bảo :

    - Đọc cái này tao đã thấy nghi nghi rồi, làm gì có ai tốt mà bảy của ngay ngoài động cho mình vơ lấy, lại bảo lấy đi. Mà tao xem kiểu chứ này là nhà Thanh, bọn chó má đấy thì chẳng có gì là không dám làm. 
    Sau khi nghe bọn em dịch lại đoạn chữ Nôm thì thằng Việt mặt đỏ phừng phừng, chửi um lên, kêu bọn quan quân nhà Thanh chó đểu, lãnh đạo là lũ súc vật, rồi chửi một đống toàn tiếng Trung, nghe qua thì cũng biết chẳng lịch sự Thằng D thì thấy lạ lắm vì từ trước đến nay chưa bao giờ thấy thằng Việt cáu bẳn như vậy. Em thì nghĩ là do nó vẫn còn thù hận với nhà Thanh từ cái vụ thảm sát gia tộc. Từ hồi ấy đến nay, họ nhà nó luôn căm ghét các giai cấp lãnh đạo Trung Quốc, hầu như thời nào thi chính quyền Trung Quốc cũng liên tục gây khó dễ cho nhà nó, luôn coi những người như thằng Việt, ông K là thành phần gây náo loạn, tuyên truyền mê tín dị đoan, làm bất ổn xã hội, là phần tử cần bị loại bỏ. Thằng Việt chửi một lúc thì thôi, mấy thằng lại đi tiếp, vào trong chẳng có gì nhiều, chỉ thấy vũ khí, chum vại vứt la liệt, nhưng toàn là đồ linh tinh, chỉ có giá trị lịch sử hoặc có ích cho mấy ông thích đồ cổ. Đi được một đoạn thì cái la bàn trên tay thằng Việt quay tít mù, một làn hơi lạnh phả ra từ trong hang. Nó quay lại bảo hai thằng: "Về thôi! Mình không được cho phép vào sâu trong nữa!" Ba thằng lại quay ngược đường cũ đi về, lúc ra ngoài thì cũng đã hơn 1h trưa, nhưng ở đây thì chẳng có bóng nắng nào, tán cây đan xen nhau đã hứng hết cả, lúc này không khí vô cùng ẩm ướt, ngột ngạt khó chịu. Ăn uống xong, tba thằng đi về, có kể với mấy anh hay đi săn với bắt tắc kè trong khu đó thì mấy anh cũng bảo là trong đó có nhiều đồ quý lắm, trước lúc bọn em đến còn có nhiều nhóm vào, đem ra bao nhiêu là ngọc, vàng, mã não,… Nhưng sau đó thì đều thành điên điên dở dở, thời Pháp cũng có nhiều lính vào đó đào của rồi hóa điên, dân làng thì thấy gương ngay trước mắt nên có đi qua cũng chẳng dám bước vào. Cái động thì sau hai năm có một đoàn khảo cổ cả ta, Nhật, Pháp cùng vào. Nhưng em tra khắp báo, trang mạng mà chẳng tìm được tý thông tin nào về chuyến khảo cổ này. Có lần, em hỏi thằng Việt là sao lúc đó nó không nhặt đồ trước rồi vào xem thì nó bảo : "Người học nghề phù thủy thì không được lấy của mà chưa được cho. Lúc đi giúp người thì ai cho bao nhiêu cũng lấy, nhưng mà không được giữ riêng, phải chia đi cho người nghèo đói. Ai làm sai thì là phạm vào lời thệ."

    Mấy bữa sau, lúc em đang đi câu đêm với thằng D thì có chuyện, và lần này thì không có thằng Việt đi cùng….

    Chuyện thứ mười tám: Tự lực cánh sinh

    Đi chơi núi về được vài hôm thì thằng D sang rủ em đi câu đêm với nó một bữa cho biết, thấy hay hay nên em cũng nhận lời, hai thằng rủ thêm thằng Việt và thằng N nữa cho vui nhưng thằng Việt đang kèm con em ôn thi vào 10 nên không đi được. Tối hôm đó, ba thằng gồm em, D và N mỗi thằng vác một cái cần câu và một lọ mồi, mò lên trên cửa cống ngồi câu. Lúc đi đến cái cửa cống thì em đã thấy nghi nghi, thấy xung quanh cảnh vật u uất, nơi rộng rãi mà lại thấy bí bức, em đã định về. Cơ mà hai thằng kia chèo kéo ghê quá, bảo chúng nó câu mãi ở đây rồi, chỗ này nhiều cá lắm nên em cũng chịu ở lại. Ngồi câu được chừng 10' thì cá cắn câu thằng N và thằng D, còn em thì vẫn ngồi đần mặt ra đấy. Thêm một lúc nữa thì phao của hai thằng kia rung lên liên tục, cứ được chừng 5' là lại lôi lên được một con nặng chừng 2kg. Nhìn lại mình thì thấy cái giỏ vẫn trống không, đang ngáp ngắn ngáp dài thì nghe thấy tiếng nước động, phao em bị kéo chìm hẳn xuống. Khẽ trầm tay giữ cần, em từ từ rê rê cho con cá đuối dần rồi lôi lên. Nhưng em càng ngày càng thấy ghê vì dây câu cừ ngày một bị lôi xuống, mà tay em gồng lên hết sức cũng không rê cần đi được lấy một ly, chẳng bù mọi khi đi câu thì hơi giật vài cái là cá lên. Lúc này, cuộn dây câu bị xoay liên tục đã nóng lên đến rát cả tay, hai thằng kia thấy em cứ ghì mãi mà không kéo lên được thì vội buông cần chạy ra. Không hiểu sao mà cả 3 thằng cùng kéo lên mà vẫn không rê nổi cái cần, sơi dây câu thì vừa bị thằng N chốt lại nên căng cứng như sắp đứt, bấy giờ em mới thấy sức con cá sao mà khỏe, cái cần em mua trên Ebay, làm bằng hợp kim đàn hồi cực tốt mà giờ cái cần bị uốn cong lại gần chạm nước, em nghĩ thầm : "May mà có hai thằng này khỏe giữ mình lại chứ không giờ chắc bị lôi tuột xuống rồi!". Giữ thêm lúc nữa thì tay em tê dại đi, hoảng hốt nhận ra là ba thằng đã bị kéo lết đi một đoạn hơn 2m, sực nhớ ra mấy câu thằng Việt dặn nên em la lên : "Thằng D ôm chặt tao vào, ghì lại, còn thằng N thì chạy ra cắt dây nhanh lên, có chuyện rồi!". Thằng D hét : "Đếm đến ba thì bọn tao dồn sức, mày chạy nhanh ra cắt dây. Một! Hai! Ba!", đến ba thì em và thằng D cùng dồn tấn, gồng hết sức kéo ra sau, thằng N nhanh chân chạy lên cầm cái kìm bấm tạch một cái, sợi dây đứt luôn, em và thằng D ngã ngửa ra sau. Chưa kịp ngồi dậy thì thằng N lắp bắp: "Chúng…mày..ơi! Sao bên mình dây đứt thì ngã dúi dúi, mà bên kia…..dây đứt lại chẳng có động tĩnh gì thế?" Để ý lại thì em cũng thấy hoảng, đúng ra là khi cá cắn đứt dây hoặc dây đứt thì dưới nước sẽ có tiếng bũm hoặc oạp một cái, không thì ít ra cũng có sóng gợn lên, sủi theo cả bong bóng, đằng này con cá khỏe như thế mà lại chẳng có tiếng gì, nhẹ nhàng một cách lạ thường. Em càng nghĩ càng ghê nhưng cũng trấn an bọn nó: "Hay là nó lặn sát đáy nên im?'. Thằng D vội quạt lại :"Con cá khỏe đến thế thì ít ra cũng phải có bóng bóng to bằng quả quýt nồi lên chứ!", thằng này là rái cá rồi nên em cũng chẳng dám cãi lại. 

    Cả ba thằng thấy lạnh cả người nên kéo nhau về. Đang về đến cái khúc quẹo ở dốc bà Ân thì mấy bụi rậm bên đường lào xào, rung động mạnh lên. Em với thằng D thì sợ mà thằng N lại cười đê tiện, khẽ bảo: "Anh chị nào hò hẹn ra đây bức xúc quá nên đang bàn bạc cách giải quyết thì phải! Xem tao này!", nói rồi, nó oang oang lên: "Chúng tôi là dân quân xã đây, mời anh về trụ sở thôn để lập biên bản, tịch thu hung khí, còn chị thì theo chúng tôi về đồn để khám nghiệm vật chứng!",nói đoạn nó bụm tay vào mồm thổi toét toét như tiếng còi. Hai thằng nghe vậy thì hết cả sợ, cười sặc sụa. Nhưng ba thằng vừa dứt tiếng cười thì hai bên vệ đường vang lên tiếng cười khằng khặc phụ họa theo, cả ba đứa im bặt, mặt tái mét. Đi được thêm một quãng, thằng D tự nhiên túm áo em, líu lưỡi lại: "H ơi! Đằng sau mình như có người mày ạ!" Em vội nhìn ra sau thì thấy có một bà trung niên đang bồng đứa bé, đi sau bọn em từ lúc nào, vội bấm thằng N kêu nó thì nó khẽ bảo:"Đ' phải người đâu! Nó tự nhiên rẽ từ chỗ bụi tre ra, đi theo mình được vài phút rồi!". Vừa nghe xong thì em sợ run cả chân, nhưng cố bình tĩnh bảo hai thằng :"Bây giờ mình thử rảo bước lên một lúc rồi lại đi thật chậm lại xem thử nó là ma hay người!" Thế là cả ba cùng làm, cứ đi nhanh đi chậm vài lần, nhưng bà kia vẫn cứ bám theo bọn em, vẫn giữ nguyên khoảng cách đấy. Thằng N lúc này đánh bạo, bảo: "Mình quay ngược đường trở lại xem nó làm sao nào, ba thằng cơ mà, sợ đ' gì ma với cỏ!". Em với thằng D sợ lắm nhưng anh em sống chết có nhau lẽ nào lại để nó đi một mình, rồi em khẽ lầm nhẩm ba hai một rồi cả ba thằng đồng loạt quay lại, nhưng vừa quay người lại thì hồn vía cả ba bay hết. Ngay sau bọn em chưa đến 1m là "nó", giờ nhìn kĩ lại thì mới thấy hãi, nó chẳng phải là bà trung niên nào cả, mặt nó trắng trơn như ma Nhật, cái bọc nó ôm trên tay thì còn chưa là "đứa bé", đó là một cái thai nhi mới được 5-6 tháng là cùng. Em vội giơ cái vòng cổ ra thì nó cứ trơ trơ, đứng nhìn chằm chằm ba thằng. Cả ba thằng sợ xanh mắt mèo, chả hiểu thế nào mà cùng đồng loạt vung cần câu bổ thẳng vào thứ kia.( Như bổ vào không khí ý các thím ợ!) Xong rồi thằng này kéo thằng kia chạy bán sống bán chết, nghe gió vù vù bên tai, chân tưởng như không chạm đất. Không nhớ là chạy bao lâu thì ba thằng dừng lại, vừa dừng lại thì thằng N kinh hãi kêu lên : "Sao mình chạy mãi mà lại về dốc bà Ân thế này bọn mày ơi?". Em vội nhìn quanh thì thấy rõ ràng là mình lai đứng ở chỗ vườn nhãn cũ, còn chưa kịp hoàn hồn thì em gào lên, nhận ra cái thứ kia đang từ từ bước đến chỗ ba thằng, em vội kéo bọn nó dậy rồi đùn cho chạy lên, em chạy đằng sau, nó vẫn đi sát chỉ cách em có vài bước, đang chạy thì em cuống chân ngã lăn ra, toạn cả đầu gối, máu tèm lem hết cả. Thằng D vội phanh lại, cúi xuống hỏi em sao không thì em đau quá không kêu được, xua xua tay bảo bọn nó chạy nhanh. Thằng D thấy em ngã be bét mà vẫn nghĩ cho anh em thì nó như phát cuồng , rút cái dép dưới chân ra, xồ vào con ma, gầm lên : "ĐMM đánh bạn tao! Để bố cho mày xem thằng nào sợ thằng nào nhé!", thằng N cũng chằng vừa, lấy cái kìm ra nhảy bổ vào, hét lên :"Oánh bỏ mẹ nó đi! Nhằm vào cái con con (cái thai nhi) kia mà tẩn!" . Nhưng hai thằng vừa lao đến thì nó đã kêu ré lên rồi chạy vào trong vườn nhãn, sau đó thì mất hút trong màn đêm. Đến bây giờ nhớ lại, em vẫn còn thấy cảm động hai thằng, ví thử như chúng nó ham sống quên nghĩa mà bỏ luôn em lại đấy thì đâu còn cái ngày hôm nay để em ngồi đây chém gió với các thím! Em biết là thằng D từ bé rất nhát ma nhưng hôm đó nó sẵn sàng vì em mà đánh luôn cả một thứ mà nó biết mình sẽ thua. 

    Nhân đây, tao muốn nói : Tao mang ơn mày suốt đời D ạ, nếu có kiếp sau thì tao lại xin được làm anh em với mày, ku nhát chết.


    Phụ chuyện: Thể theo yêu cầu của các thím, em xin viết lại một số điều mà thằng Việt dạy em lại cho các thím. Thực sự thì đó là những điều rất đơn giản mà bố mẹ ông bà các thím hay dặn khi đi xa nhưng chắc cũng có nhiều người bỏ ngoài tai.

    1. Đến nơi như đền chùa, miếu mạo thì đừng có ham hái lộc mà bẻ một đống vác về. Chùa chiền là nơi linh thiêng, mình tốt nhất là đừng dây vào, tránh đi cũng chẳng ai bảo mình nhát.

    2. Những nơi núi đồi cao chót vót, trơ chọi không có núi khác tự lưng,nhìn từ xa không thấy hùng vĩ mà lại thấy rợn người, quanh năm âm u, ít dấu chân người thì rất có khả năng đó là "Đại bản doanh" của một lũ mà ai cũng biết đó. (Cái nì thì nhiều thím hay đi chơi, dã ngoại ở vùng rừng núi sẽ nhận thấy. Có bao giờ đứng trước những quả núi cao không thấy đỉnh, cảm giác nhìn là thấy hào khí trong lòng dâng lên, muốn chinh phục ngay. Nhưng cũng đứng trước một ngọn núi khác cũng cao không thấy đỉnh, đường lên có khi còn khoai hơn, nhưng vừa nhìn đã thấy rùng mình, khó chịu, chỉ muốn đi sớm khỏi chỗ này!)

    3. Vào những chỗ như bãi tha ma thì nên kính cẩn, tránh động chạm, cũng đừng khấn vái hứa suông với người chết.Hay như bãi chiến trường xưa, đặc biệt là những bãi chiến trường cổ, nơi hai quân phục kích nhau chết hại rất nhiều thì chính là nơi tập trung nhiều oán khí, vào đây mà không cẩn thận thì thầy phù thủy tàng tàng cũng hết đường về chứ không nói người thường như mình! Vào đó thì tốt nhất nên mang theo vàng hương, hoa quả, rượu để cúng vong hồn tử sĩ (Chẳng cần nhiều làm gì, chỉ cần vài ba chén rượu với ít đồ cúng, quan trọng là mình phải có lòng biết ơn tới những người đã vùi thây ở đây để có mình ngày hôm nay), nếu ai có lòng thì viết một bài văn tế thể hiện lòng thương tiếc thì càng tốt.

    4. Đi trên sông nước thì tốt nhất nên đi cùng nhiều người, đừng đi lẻ tẻ (Nếu mình có rơi thì đã có người vớt, nếu cả thuyền chìm mà có mỗi mình ngỏm thì tốt nhất nên chấp nhận an bài). Tránh không lảng vảng ở những bến sông, hồ có nhiều người chết đuối trên một khúc sông, lại càng tránh lúc sẩm tối, đêm khuya hoặc lúc trời âm u vần vũ. Có người bảo tránh tầm giữa trưa nữa để đề phòng. Còn những ngày mặt trời chói rạng thì cũng yên tâm được thêm chút ít, chỉ phải cái là ai sức khỏe èo uột thì sẽ rất dễ say nắng, mê sảng rồi tự ùm mà chẳng đợi ma nào kéo.

    5. Thấy của rơi thì đừng tham, nộp lại cho CA cho nó lành, của đến bất ngờ thì của đi cũng bất ngờ, chẳng ai được cho không cả. Bất ngờ đào được châu báu, vàng bạc thì đừng tham mà ôm cả. Đem một phần cúng cho đình chùa, thổ địa, một phần chia cho người nghèo khổ, giữ lại cho mình một phần thôi. Sở dĩ đem công đức cho đình chùa vì nếu mình công đức vào thì cũng như mình đến xin được ông thần bà thánh nào đó bảo vệ, coi như mình có tay to bảo kê với ma quỷ. Còn đem chia cho người nghèo là vì người ta khổ sở thì đáng được quan tâm, mình cho đi không chờ nhận lại nhưng nó làm cho mình thấy thanh thản, thoải mái. Vũ trụ luôn có sự cân bằng mà, rồi sẽ có lúc mình hoặc con cháu mình túng quẫn sẽ được người khác cứu giúp như mình đã từng cứu một ai.

    6. Mỗi người nên xin một cái bùa bình an, người thân yêu xin cho mình thì càng tốt. Hoặc những đồ trang sức do người thân, hoặc tự tay mình làm tặng cho nhau để cầu may mắn cũng rất tốt, đăc biệt là thím nào lái xe thì nên có một vật nho nhỏ gợi đến gia đình treo ở gần tay lái, xe máy thì nên làm móc chìa khóa. Sẽ có thím bảo em cầu kì kĩ tính như đàn bà nhưng thực chất bùa bình an là một loại thuốc tâm lý, có nó mình thấy yên bình, tĩnh tâm. Chỉ cần tâm không xao là mình đã tránh được bị ma nó xỏ rồi.

    7. Trong trường hợp xấu nhất, khi đã chạm trán ma quỷ thì thứ vũ khí tốt nhất không phải bùa chú, ấn quyết mà chính là sức mạnh tinh thần của mình. Hào khí vì bố mẹ, anh em, bè bạn, người yêu hay thậm chí là vì những người yếu thế cũng sẽ trở thành Chính khí át đi khí âm ở ma quỷ. Ví dụ như lúc thằng D cứu em, hàng ngày nó rất sợ ma, vía lại yếu, nhưng đêm đó nó vì em mà bảo vệ nên Chính khí bộc phát, đánh lui cả thứ mà nó sợ nhất.


    Và cuối cùng là các thím hãy tự sửa đổi bản thân, biết sống vì người khác và nhất là đừng có làm chuyện gì để mình phải xấu hổ với lòng. Người ta bảo :

    Kẻ làm chuyện xấu xa thì quỷ thần đều biết. Ban ngày không làm việc khuất tất, tối đến khồn sợ ma gõ cửa.


    Trên đây là những điều thằng Việt dạy cho em, có một số điều em đi từ khởi điểm do nó đặt mà suy ngẫm ra. Có lẽ các thím sẽ thấy nó rất sáo rỗng mà oải như tụng kinh. Còn em thì là một thằng loạn trí bị cuồng tín. Nhưng hay đọc và ngẫm nghĩ, mọi chi tiết trong chuyện đều có mục đích của em, cách đây vài hôm có một thím đã tinh ý nhận ra điều này.

    Chuyện thứ mười chín: Ân nghĩa bè bạn

    Sáng hôm sau khi gặp ma về, thằng Việt lao ngay sang bên nhà cũ đập cửa gọi em, thấy em lò cò ra mở cửa thì nó hỏi sao chân lại vậy, em kể lại chuyện đêm qua thì mặt nó tái xanh, từ trước đến giờ chưa bao giờ em thấy nó hoảng hốt như vậy. Nó bảo rõ ràng tối qua lúc bọn em vừa đi thì nó lấy cái ống tre ra rút quẻ, rút ra liền ba quẻ lợi đường sông nước nên yên tâm ngồi nhà kèm Ngọc Anh. Sáng ra đang ngồi học thì tự nhiên cái chặn giấy hình con nghê của nó không ai làm gì mà tự nhiên lăn ra mép bàn, rơi xuống đất vỡ tan, nó vội phi đến xem em về chưa. Sau rồi nó dẫn em sang nhà nó đắp thuốc, vừa vào cửa thì thấy Ngọc Anh đang lúi húi quét dọn mấy mảnh sứ dưới chân bàn. Vừa thấy em tập tễnh bước vào thì Ngọc Anh buông luôn chổi, ra hỏi xem em đi đứng kiểu gì mà bị thế này. Thằng Việt chỉ bảo : "Mày vào lấy lá cúc tần, xạ can ra đây, càng nhiều càng tốt! À mà lấy thêm 7 thang uống phần mềm nữa!". Rồi thằng Việt kê thêm cái đẩu, lót nệm dưới cho em gác chân lên, lúc này nó mới lấy dao rạch chỗ bông băng, từ từ mở từng lớp gạc. Lớp gạc cuối cùng mở ra cũng là lúc em suýt hét lên kinh hãi vì chỗ vết thương ở đầu gối em giờ không hiểu sao chỉ sau một đêm mà sưng mủ lên, chỗ đỏ chỗ tía, thịt như chỉ cần động vào là nát ra, nhìn rất sợ. Lục lại trong chí nhớ mình, em nhớ rõ là tối hôm qua sau khi đuổi con kia đi thì thằng D với thằng N cõng em ra trạm xá cho y tá sát trùng, băng bó, băng xong thì em thấy rất thoải mái, chỉ còn hơi ê ê, phải cái là đi lại hơi khó, nhưng hai thằng nhất quyết đòi cõng em về, sau đấy thì chúng nó còn ngồi canh cho em đên tận lúc em mệt quá thiếp đi thì mới chịu về. Cả đêm em ngủ rất ngon, thoải mái đến sáng, lúc tỉnh dậy vẫn đi lại được, chân cũng vẫn chỉ hơi ê ẩm đôi chút. Nhưng giờ nhìn vào vết thương thì em không thể nào tin vào mắt mình được. Đúng ra là với vết lở loét đến thế thì ngay cả một người gan lì đến mấy cũng phải cắn răng mới chịu được, vậy mà em, một thằng trai thành phố chưa từng biết thế nào là thương tổn lại chẳng có cảm giác gì. Thằng Việt cầm cái móc nhéo, khẽ chạm vào chỗ vết thương, hỏi em có đau không thì em lắc đầu, sau đó nó cầm cái nhéo móc thẳng vào chỗ thịt bị rách, em vẫn chẳng thấy đau đớn gì. Lúc này thì Ngọc Anh bê một cái khay, trên chứa những thứ thằng Việt vừa bảo mang. Vừa đặt cái khay xuống bàn thì nhìn thấy cái chân tàn tạ của em, Ngọc Anh hỏi : "Anh ơi! Vết này là anh H bị nó xô à?", thằng Việt khẽ gật đầu xác nhận. Vừa nghe xong thì Ngọc Anh chạy luôn vào nhà trong lấy túi đồ nghề của thằng Việt ra, nó thấy vậy thì bảo : "Mày xử lý vết này cho anh H đi! Tao tay vụng không làm được! Còn phải chuẩn bị đồ nữa!". Trước khi chạy ra ngoài, nó còn ngoái lại bảo :"Chú cứ bình tỏm mà để nó chữa cho! Con em nó thạo nghề thuốc tao nhiều!". Thế là em ngồi đực mặt ra đó, hàng ngày Ngọc Anh đã ít nói, còn mỗi mình ở đây thì chẳng biết ăn nói ra làm sao. Đang ngán ngẩm thì Ngọc Anh kê cái ghế ngồi lại gần em, lẳng lặng rủa vết thương, đắp thuốc. Không hiểu sao giờ có thuốc khác vào thì em với bắt đầu thấy rát, chân khẽ giật một cái. Thấy thế thì Ngọc Anh rụt tay lại không dám rửa nữa, em hỏi sao thì bẽn lẽn trả lời là sợ nhìn thấy người khác đau. Em bảo : 
    - Thì em cứ thoải mái mà chữa! Anh có chết được đâu mà sợ! 

    Ngọc Anh cười một cái rồi lại rửa vết thương tiếp, nó bắt chuyện: 
    - Sao anh bị xô như thế mà giờ vẫn còn ngồi đây được nhỉ! Người khác bị xô toàn thì toàn bị bắt luôn chứ không mấy người về được đến nhà như thế này đâu!

    Em hỏi lại: 
    - Em nói cái gì anh chẳng hiểu!

    Ngọc Anh đáp:
    -Anh vừa thoát nạn trong gang tấc mà vẫn không biết! Nhưng mà sao anh lại về được đến nhà thế, chắc phải có ai giúp chứ!

    Giờ em mới từ từ thuật lai chuyện tối qua cho Ngọc Anh nghe.Nghe xong thì nó chẳng sợ hãi gì mà còn cười, bảo :
    - Cái tối qua mà anh gặp là ma do một thầy phù thủy khác sai đến đấy! Đáng lẽ anh phải đứng lại, cho nó quà bánh gì đó rồi xin nhường đường thì nó đi ngay, ma sai đi toàn thế cả. Đằng này anh với hai anh kia lại chạy, thế là nó càng đuổi. May mà có anh D với anh N cản lại không thì anh đã bị nó bắt rồi! Mà không biết nếu giờ anh D biết chuyện tối ngồi ở hiên có đứa bé ngồi trên vai mình với một đứa nữa nghịch tóc thì thế nào nhỉ? 

    Nghe gợi lại cái đêm kinh hoàng ở sân nhà thằng Việt mà em lại rợn tóc gáy. Nhưng nghe trong lời nói của Ngọc Anh có lắm điều bí ẩn, em liền hỏi :

    - Thầy phù thủy nào mà lại quản vào việc anh đi câu? Mà sao em nhìn thấy ma được à? Anh tưởng là phải như thằng Việt mới thấy chứ!

    Ngọc Anh trả lời: 
    - Em cũng chẳng rõ, nhưng sáng nay thấy cái chặn giấy của anh em tự nhiên rơi vỡ, mà tối qua anh gặp chuyện, trong khi đó anh em bói lại toàn ra quẻ Đại Cát. Suy ra thì biết là có người nhúng tay vào cản trở anh ý, mà tài phép người này cũng chẳng kém anh Việt là bao. 
    Còn chuyện em nhìn thấy ma là do bẩm sinh hai anh em đã vậy! Nhưng em là con gái, tư chất lại kém anh trai nhiều phần nên không được học nghề. 

    Bây giờ em mới thấy hóa ra cô bé nhút nhát này thật có lắm điều bí ẩn, thật đúng là không thể nhìn vẻ ngoài mà đoán bừa được. Sau đó, cả hai còn ngồi tám chuyện trên trời dười đất, Ngọc Anh lại biết rất nhiều thứ lạ lẫm về thế giới của những người hành nghề phù thủy, có thể nói cả ngày không hết, lần đầu tiên em thấy con bé vui vẻ như vậy. Đang ngồi chơi thì thằng Việt về, nó lấy trong hộp gỗ ra 4 cái kim, khẽ châm xuống quanh đầu gối và đùi em, bấy giờ thì chẳng thấy đau gì dù mấy cái kim dài đến gần 20 phân đã cắm ngập đến non nửa vào chân em. Thằng Việt quay ra bảo Ngọc Anh : "Mày giữ anh H lại! Để tao giải ấn cho anh!", sau rồi nó nhìn sang em bảo : "Đau lắm đấy! Cố gắng ngồi im nhé, không được cử động mạnh." Em gật đầu rồi cắn chặt răng, nhìn nó lấy một sợi chỉ vàng, quấn quanh ngón tay rồi bắt quyết, sau đó nó từ từ sâu sợi chỉ qua mấy lỗ trôn kim, nhai lỗ đầu thì chỉ hơi đau, đến hai lỗ cuối thì em thấy như bị đâm xuyên vào tận xương cốt vậy, đau buốt lên tận óc mà không cử động được. Lúc sau, khi sợi chỉ đi hết thì thằng Việt rút kim ra bảo em nó thay băng khác cho em. Đến tận lúc đó, sau khi thay băng thì đầu gối em mới có cảm giác thực sự, nó vừa đau buốt, vừa ê ẩm, nhưng sau khi uống bát thuốc sắc tiêu độc được 2h thì thấy đỡ hẳn. Đang định về thì thằng Việt cản lại bảo : "Trong vòng bảy ngày này mày không được rời khỏi đây, mày chỉ có thể ở đây thì tao và em tao mới bảo vệc cho mày được. Nói cho mày biết là có người chọn mày làm hình nhân rồi đấy!". Em thảng thốt hỏi ai thì thằng Việt đáp : "Tao cũng chưa biết rõ, nhưng mà không dễ xơi đâu mày ạ!" Sau đó nó dẫn em sang bên nhà cũ lấy đồ dùng rồi dọn sang bên nhà nó, em và nó sẽ ở liên tục dưới nhà trệt này cho tiện việc canh chừng.

    Bảy ngày sau đó, em ở lại nhà thằng Việt, và cũng chứng kiến nhiều chuyện ly kì quái dị, nhưng em rất cảm kích vì anh em nó đã liều mình bảo bọc em. Đến tận bây giờ em vẫn cứ tự hỏi sao ở quê mình lại có được những người bạn tốt đến vậy, luôn bảo vệ, cứu giúp mình mà không hề tính chuyện ơn huệ như những kẻ "bạn thân" trên Hà Nội hoa lệ của mình. 

    Chuyện thứ hai mươi:
    Cao cờ lại gặp cờ cao đấy
    Đối thủ ai nào dám rẻ ai

    Ngồi đọc lại quyển Tam Quốc, thấy có hai câu thơ kết hối nói về cuộc đấu trí giữa Khổng Minh và Trọng Đạt nên em mạn phép lấy luôn làm tựa cho chap này.


    Trong suốt 7 ngày, em ở liền tại nhà thằng Việt, mọi việc ăn uống đã có anh em nhà nó lo tất, em ngồi một chỗ cũng chán nên ra xem thử bài vở của Ngọc Anh thế nào, sẵn tiện kèm luôn môn Văn cho Ngọc Anh vì văn vẻ của thằng Việt cũng chẳng cao lắm, lúc thi vào 10 nó vừa đủ điểm là nhờ môn Toán 10 kéo lên, còn không thì với con 4 văn của nó thì ông trượt vỏ chuối mất. Lúc giở quyển vở của con bé ra thì em bắt đầu thấy xấu hổ và thất vọng. Không phải vì quyển vở có cái gì khiến em vậy mà là do quyển vở nó quá hoàn hảo. Chữ viết ngay ngắn, nắn nót, vở sạch sẽ, mỗi đề mục, mỗi dòng ghi chú đều được viết bằng bút nhũ xanh theo lối viết hoa cách điệu, còn các trang quan trọng thì mỗi trang lại có một cái hình sticky đánh dấu lại. Nghĩ lại về cái quyển vở của mình từ đầu đến cuối chỉ đặc toàn một màu bút bi đen, chữ viết thì như "rồng bay phượng múa" mà em thấy nhục. Nhưng dù gì thì vẫn cố vớt vát chút sĩ diện, em dở ra đọc kĩ từng bài trong đó, nhận xét chung là về phần văn biểu cảm, tự sự và miêu tả, thuyết minh thì đều rất hay, có thể nói là vượt trội đến mức cho được vào sách để học tốt, duy chỉ có mảng văn nghị luận tác phẩm, chính trị hay một vấn đề xã hội là còn chưa vững, viết vẫn thiếu đanh thép, còn ủy mị nhiều. 

    Thế là em lại nghiễm nhiên thành ông thầy dạy môn chính trị với đạo đức. Đúng là mình có thể rèn cho bọn con gái tập võ thành đai đen được, nhưng để rèn cho bọn nó có suy nghĩ chai sạn thì thật đúng là khó hơn lên trời, em dạy đi dạy lại, lúc nào có "thầy" chỉ con bé viết đúng như ý em, nhưng vừa rời đi thì lại thấy tất cả trở lại với màu hồng thơ mộng. Và sau bao nhiêu khó khăn, với hơn 30 đề nghị luận, gần 100 lần viết đi viết lại thì mọi chuyện đã xoay chuyển theo đúng hướng mà nó nên đi. Đến tận bây giờ, mỗi khi nhìn vào điểm thi Văn vào 10 cao chót vót của Ngọc Anh mà em thấy mình giỏi vô cùng, phục bản thân mình không để đâu cho hết, người ta bảo thầy giỏi thì có trò hay, dưới tay tướng tài thì không có tốt hèn, thật là đúng quá. 

    Mọi chuyện đang diễn ra bình thường, sáng với chiều thì em dạy Ngọc Anh học, tối thì bắn CF với thằng Việt, đời thật là như mơ. Bỗng nhiên, đến đêm ngày thứ ba thì có chuyện.

    Đêm đó, hai thằng đang lắng tai nghe ghost thì tự nhiên em nghe thấy tiếng bịch bịch từ xa, em vội xoay chuột ra sau xả liền nửa băng, nhưng vẫn không thấy cái bóng nào vật ra, và mình thì vẫn chưa bị thằng nào xiên chả cả. Đến lần thứ ba nghe tiếng bịch bịch, em quay lại xả nguyên băng Mp5 mà vẫn không ăn được đứa nào, thế là bỏ luôn headphone ra, bắn theo cảm tính. Nhưng rồi, lại có tiếng bịch bịch đó, nghe như ai ném đất đã vậy, cơ mà em lại đang không đeo headphone, hoảng quá, quay sang gọi thằng Việt thì nó bảo chẳng nghe thấy gì cả, kêu là do em chơi nhiều nên lãng tai, đi ngủ đi. Thế là hai thằng trải nệm ra đất, thằng Việt thì vừa đặt lưng xuống đã kéo bể, còn em thì nằm nghe nhạc, nhìn thằng ra cái cửa chính mở toang. Đúng lý ra là mọi khi em đi ngủ thì toàn đóng chặt hết cửa lại rồi trùm chăn đến sáng mới thò đầu ra, nhưng hôm nay thì khác, thằng Việt còn nằm ngay đằng kia, đây lại là nhà nó, bọn ma quỷ láo nháo có mà gan to bằng trời cũng chẳng dám động thổ trên đầu Thái Tuế, vô phúc cho đứa nào lỡ động làm nó tỉnh dậy. Đang tí tởn nghĩ về cái an toàn này thì em giật mình nhìn ra góc bên trái vườn. Ngoài đó, phải có đến hơn chục bóng đen đứng lố nhố, đang nhòm vào trong nhà, lúc sau lại di chuyển sang góc khác nhòm vào. Em nghĩ : "Tường nhà thì cao 2m, cứ cho là ăn trộm nó cõng nhau để nhòm vào đi, nhưng mà nếu cõng nhau thì lúc di chuyển sang góc khác nó cũng phải tụt xuống chứ, mà tính cả số thằng ở dưới cõng lẫn số thằng ở trên ngó ngiêng thì cũng phải đến gần ba chục đứa, ăn trộm éo gì mà đi đông thế nhỉ?" Vẫn còn nằm suy nghĩ mông lung thì tự nhiên thằng Việt vùng dậy, ném luôn một cáibát ra ngoài, quát tháo vang nhà, sau thì mấy bóng đen kia đi dần mất. Nhưng quái lạ, ném nguyên cái bát ra ngoài thì phải xoảng một cái chứ nhỉ, đằng này lại im ắng chẳng có gì. Lúc này, nhìn lên tầng 2 vẫn thấy ánh đèn từ phòng Ngọc Anh hắt ra, tiếng đọc thuộc bài vẫn vang lên nhỏ nhỏ, đều đều. Em thì sợ teo tờ rym, éo dám ho he gì, quay mặt vào ngủ.

    Sáng hôm sau, trong lúc đi dạo quanh vườn thì tự nhiên em thấy phía ngoài cổng, có hai đứa bé con con cứ vin tay vào chấn song mà nhìn vào sân, trông cũng hay hay nên định ra xem thế nào, đang bước đến gần cổng thì bỗng nhiên, tiếng Ngọc Anh từ trong nhà hét vang lên : "Anh H lùi lại, nó không phải trẻ con đâu!". Em giật người lùi lại mấy bước, xoay người nhìn về hướng con bé thì thấy nó đang đứng trên tầng ba, chỉ xuống cổng nói nói cái gì đó, quay người lại thì hai đứa bé vừa nãy đã đi đâu mất. Vội vàng chạy lên chỗ Ngọc Anh, hỏi thì nó trả lời : 

    - Theo như anh Việt bảo thì anh đã bị một lão thầy phù thủy chọn rồi. Lão thấy anh vừa hợp vía, hợp tuổi lại có khí chất nên định bắt anh đem làm hình nhân thế mạng, cứu lão khỏi tai họa gì đó. Anh em đã tính là từ giờ đến hạn của lão là còn 4 ngày, nên mới giữ anh lại đây để tiện bảo vệ, vì đất này là đất nhà em nên anh ý được quyền vẽ vôi ngăn vạch không cho người chết phạm vào. Suốt từ hôm qua đến giờ, lão kia đã sai mấy lượt ma quỷ, âm binh đến để lôi anh đi đấy. Nhưng mà lão là ai thì anh ý chịu, đã gieo quẻ mấy lần thì toàn bị khấc. Nên mấy bữa nay anh Việt vào hết mấy núi quanh đây dò hỏi âm binh, thổ thần, ma chết đường chết chợ về lão này, không biết hôm nay đi có kết quả gì không.

    Em nghe xong thì rùng mìn, gáy lạnh toát, nhưng lại thấy xúc động vô cùng khi có những người bạn hết lòng với mình thế này. Sau đó, em lại tiếp tục dạy Ngọc Anh học, lòng thấy yên tâm vô cùng mà không hiểu tại sao. Từ đó, mọi chuyện vẫn cứ diễn ra bình thường, đêm đến em vẫn kê cao gối ngủ, yên tâm vì mình đã có bạn bè bảo vệ. 

    Sáng ngày thứ bảy, ngày cuối cùng thì có thằng D về cùng thằng Việt. Sau lưng nó đeo cái que gì dài dài, được quấn bằng một lớp vải điều. Vừa thấy em là nó đã chạy vào hỏi han đủ điều, hỏi xem chân em đã khỏi chưa. Em vừa nói chân khỏi rồi thì thằng Việt cười ha hả rồi đá phát vào mông thằng D, bảo : "Tao đã tính trước rồi mà lị! Dám không tin vào tài phép của anh hả!". Rồi cả ba thằng vào trong nhà nói chuyện, thằng Việt bảo: 

    - Tao đã nói rõ với thằng D rồi, nó nhất quyết đòi sang giúp mày nên tao cũng chịu. Còn tối nay thì lão kia sẽ đích thân đến bắt mày cho bằng được, tao sợ là một mình tao không chống được nên phải có cả chúng mày giúp nữa!

    Em thấy là lạ, cả em với thằng D chẳng có thằng nào biết bùa phép là gì thì giúp thế nào. Thằng Việt mới giải thích : 

    - Lần này lão đến đây để bắt mày, tao chỉ là người cản chứ không thể giải được. Vậy nên mày phải tự làm lấy ! 

    Đêm hôm đó, lần đầu tiên em được tận mắt chứng kiến cuộc so tài giữa hai phù thủy. Ăn cơm xong thì cũng là 8h tối, thằng Việt bảo bọn em : 

    - Chuẩn bị đi, sắp đến rồi, còn có 2 tiếng nữa thôi!

    Sau đó, thằng Việt và con Ngọc Anh bày một bàn tế ngoài sân, hướng về hướng chính Bắc. Nhìn có bát hương, đèn nến, đồ cũng như bình thường, trên có đặt hai cái hộp đựng cờ con và thẻ gì đó, nhìn như mấy cái hộp trên bàn của Nguyên soái trong phim dã sử của Tàu ý các thím ạ! Xong xuôi tất cả, thằng Việt giục con em đi ngủ sớm, con gái ở đây không tiện. Chờ đến đúng 10h thì thằng Việt mặc áo lên đàn. Nó cầm kiếm gỗ , trỏ nam trỏ bắc liên tục rồi xì xầm đọc, sau đó nó đặt kiếm xuống, rút lấy một cây cờ đỏ, chỉ thẳng vào trong núi rồi khoa một vòng quanh đầu, phất sang trái hai cái, sang phải năm cái rồi giơ lên phất mạnh xuống kết thúc. Cây cờ trên tay thằng Việt vừa đặt xuống thì có tiếng ruỳnh ruỳnh, rồi ầm ầm như núi lở phát ra từ phía vách Kha. Em và thằng D lấm lét quay sang nhìn nhau, mặt thằng nào cũng xanh như tàu lá chuối. Nhưng đột nhiên lại có một loạt tiếng vang phát ra tiếp, nhưng là từ hướng núi nam. Được một lúc thì tiếng reo im hết, thằng Việt liền vốc một nắm muối vãi ra xung quanh, tay bắt quyết liên tục, mồm ngậm một búng rượu, phun mạnh về phía trước, nó vừa dứt thì gió nổi lên ầm ầm, cây cối lay dữ dội, cát bụi cuốn lên, rồi thốt nhiên, đám muối mà thằng Việt vừa vãi ra giờ tự nhiên cháy bùng lên một cái rồi tắt, nhìn y như lúc mình làm thí nghiệm hóa học. Lúc này, em với thằng D ghê lắm rồi, chân đã đứng không vững nữa, thằng D còn bảo hình như nó nghe trong gió có tiếng kêu khóc, than vãn. Được chừng mười lăm phút thì gió yên, lúc này thằng Việt lấy từ trong áo ra một tràng hạt bằng gỗ mun rồi quấn quanh cổ tay, đọc to một tràng toàn tiếng như tụng kinh, rồi nó giật đứt luôn tràng hạt đó, nắm một nắm hạt tung lên không. Bất ngờ, số hạt đang ở giữa không trung thì nổ đùng một cái, lóe sáng hệt lúc đốt Ba(NO3)2 trong phong thí nghiệm ý. Bất chợt, nó hô to một tiếng rồi ra khỏi đàn, người lảo đà lảo đảo, bọn em chạy vào đỡ thì thấy da nó tái nhợ, vồ hôi đầm đìa, môi trắng bệch như người tụt huyết áp. Đem vào trong phòng, pha nước đường với trà gừng cho uống thì dần dần hồi lại, nó bảo : "Vẫn chưa xong đâu, tý nữa mày phải tự sức mày thôi! Thằng D! Mày giúp nó!", nói xong thì nó lại đứng dậy đi ra ngoài như ngóng ai đó, bọn em cũng đi ra theo. 

    Đi đi lại lại, được khoảng nửa tiếng thì có tiếng xe máy đi vào đầu ngõ. Nhìn ra cổng thì thấy lão béo bán thuốc đang đèo ai đó đằng sau, đi cùng là một xe nữa, trên xe là một thằng chừng tuổi bọn em, mặt lấc ca lấc cấc. Mấy người đó xuống xe, lão béo vội chạy trước mở cổng, vào sau lão là một ông già người Tàu, mặc bộ quần áo vải đúng y như kiểu dân cuối đời nửa phong kiến nửa thuộc địa bên đó. Ông này vừa vào, nhìn thấy em đứng đó thì nhếch mép cười một cái, ánh mắt sắc lạnh như dao. Sau rồi ông này quay sang phía thằng Việt, nói một tràng toàn tiếng Trung, nghe thì biết là toàn câu chúc tụng, khen xã giao, nhìn thằng Việt vừa nghe vừa cười gượng thì cũng đủ hiểu là lão chẳng có ý tốt gì. Sau rồi, lão quay sang em, hằn học nói bằng tiếng Việt lơ lớ : "Mày muốn sống thì nhấc được viên gạch ta ném ra!", nói rồi, lão ra bên cây cảnh, nhặt lấy nửa viên gạch rồi vứt ra chỗ sân xi măng. Lão nói thêm: "Mày muốn nhờ ai hay làm kiểu gì cũng được, chỉ cần nhấc viên gạch lên khỏi mặt sân là tao tha cho mày, bọn đệ tử và con cháu tao cũng không động đến mày!" Thằng D xấn xổ bước ra, kêu để nó xem thử thế nào, nhưng không hiểu sao thằng cốt đột này nó nhấc mãi, cạy, nậy đủ kiểu mà viên gạch cứ vẫn cứ trơ trơ, thằng Việt thì không bước ra được vì nó đã hết quyền ra mặt. Lúc này, nó chạy vào trong nhà lấy cái bọc vải điều kia ra cho em, kêu em mở ra, bảo dung cái này mà bẩy lên. Em vừa mở ra thì tái cả mặt, trong đó chính là cây thương quý mà bữa trước em thấy trong động. Thằng Việt quay sang chỗ lão kia, cười khinh bỉ, còn lão thì vừa nhìn thấy cây thương đã tái mặt,nhưng lão nói : "Có mà không biết dùng thì cũng là đồ bỏ đi! Kiến ra cản nó lại cho cụ! ". Vừa dứt lời thì thằng Kiến bước ra, rút từ sau lưng áo ra một cây côn nhị khúc. Lúc này cả ba thằng bọn em giận tím mặt, kêu lão tráo trở thì lão nói là lúc đặt điều kiện không có noi là bên lão không có người trợ giúp. Em lấy hết can đảm bước ra, nói : "Thế thì cho tôi khởi động được chứ!", thằng Kiến cười váng lên : "Thoải mái! Thoải mái, không ai thúc giục người chết đâu!". 

    Thế rồi em cầm lấy cây thương, thấy ban đầu thì nặng tay mà càng cầm thì càng thấy đằm, vừa tay vô cùng. Nhớ lại những chiêu võ mà thầy và ông nội truyền cho, em từ từ vung thương lên múa chầm chậm, sau thì đẩy nhanh nhịp lên, quay tít cây thương, tiếng rít gió kêu vù vù. Mấy lão kia hình như không ngờ là em có võ nên ngơ ngác nhìn, duy chỉ có lão già áo vải kia là vẫn bình tĩnh. Tính sẵn từ trước, trong lúc đang múa thương, em bất chợt lao ra, khía mũi thương xuống dưới rồi lấy thụp người xuống, lấy lưng làm tựa, gồn sức bảy một cái. Nhưng em đã tính thừa quá nhiều sức, vừa mới gẩy mà viên gạch đã bắn ra xa. Thằng Kiến thấy thế thì gào lên, vung cây côn lao vào em, bỗng nhiên, lão già kia quát một tiếng, kêu nó dừng lại. Sau đó thì lão căn dặn hai lão kia và thằng Kiến mấy câu bằng tiếng Trung, rồi tất cả đi về. 

    Xong chuyện em mới thở phào nhẹ nhõm, thằng Việt và thằng D chạy lại ôm lấy em mà hét lên, đấm lưng nhau bùm bụp. Tối hôm đó, khi em hỏi sao thằng Việt lại có cây thương này thì nó bảo :

    - Tao mượn được của âm binh nhà Tây Sơn, nhưng phải đưa cả thằng D đi cùng để làm tin vì tao có nửa gốc là Trung Quốc. Nhưng mà mai mày phải tự đem lên động mà giả, bọn tao chờ ở chân núi.

    Rồi thì nó dặn em học thuộc câu cảm ơn để lên đó trả thì nói một tiếng. Đến sáng hôm sau, em lại lên trên cái động đó, đặt cây thương vào chỗ cũ. Bước ra ngoài, em đứng nghiêm trang rồi nói to : 

    - Cảm cái ân cứu mạng! Ngày sau nếu kẻ con cháu giúp được gì thì xin tìm đến lúc tắt ánh nhật.

    Em vừa nói dứt lời thì từ trong động có luồng gió lạnh toát như hơi tủ lạnh phả ra, nghe thoang thoáng có tiếng ậm ừ hài lòng.
    Thế là mùa hè năm lớp 10 của em đã kết thúc như vậy. Sau đợt này thì mọi chuyện lắng xuống hẳn, ban đêm không ai còn nghe thấy tiếng chân trên đường làng nữa, bến sông cũng yên bình như ngày nào. Hết hè, em lại về Hà Nội, ngậm ngùi tạm biệt những người bạn tốt đã vì mình mà không quản gì đến tính mạng.

    Chuyện thứ hai mươi mốt: Đất khách 

    Sau khi em thoát khỏi cái đại hạn hình nhân thế mạng thì từ đó không còn gì quái lạ xảy ra mỗi khi em về quê nữa. Liên tiếp 3 năm liền về quê nghỉ hè, em đều chỉ chơi loăng quăng với hội bạn. Năm đó thì Ngọc Anh vừa thi đỗ đại học xong, thừa tới 1,5 điểm vào Sư Phạm. Mùa hè mà chỉ có loanh quanh lên núi, vào thung hoặc nhiều lắm là lên thị xã chơi cũng chán. Bất chợt thằng D nảy ra một cái ý định điên rồ : Du lịch chui sang bên Campuchia! Em nghe xong mà suýt chút nữa đã táng nguyên khay đá vào đầu nó vì cái tội phát biểu ngu. Thằng Việt thì rú ầm lên, gì chứ đi chơi xa thì ông tướng này mê nhất. Nhưng nghĩ lại thì em lại thấy nó đúng, mình gần 19 rồi chứ bé bỏng gì nữa, thôi thì đi một lần cho biết. Con bé Ngọc Anh nghe xong cũng đòi đi cùng vì ở nhà một mình thì buồn, thằng Việt suy nghĩ mãi mới quyết định cho nó đi. Sau khi bàn bạc chán chê bên két bia và đĩa mực, túm cái váy lại là 4 ngày sau sẽ đi xuống Tây Ninh rồi bắt xe ôm vòng theo đường mòn biên giới sang Cam. 

    Mấy hôm sau đó thì cả đám kéo bầu đoàn thê tửu lên thị xã mua đồ dùng, vật dụng cho chuyến thám hiểm của gia tộc trẩu tre máu liều. Ngày thứ 4, đến đúng giờ G, sau khi đã xin phép gia đình là vào Sài Gòn chơi một chuyến cho biết thì cả đám bắt xe khách Sài Gòn, dừng lại giữa đường bắt xe khách về Tây Ninh. Biết lần này đi xa nên chuẩn bị rất kĩ, em thì mang theo một cây côn dài 2m, tháo khúc ra bỏ gọn trong balo. Thằng Việt thì mang theo cả túi đồ nghề phù thủy, lại quấn thêm một sợi cửu tiết tiên quanh thắt lưng. Ông tướng D thì vốn có gia truyền về ám khí thì mang theo một bọc đủ các loại bi săt xe đạp, tanh xe vót nhọn, ống thổi tiêu,….Ngọc Anh chịu trách nhiệm mang một balo toàn thuốc bắc, thuốc tây đủ loại. Lúc này nhìn cả nhóm như đội Dream Team vậy, mặt âm thì có pháp sư Thiên Đẳng Trịnh Thiết Việt, mặt dương thì có hai ông hộ pháp võ nghệ đầy mình là em và D, trị thương, ốm đau đã có ngay bác sĩ Ngọc Anh. 

    Đi được đến buổi chiều ngày thứ hai thì đến biên giới Việt Nam- Campuchia, nhìn xung quanh toàn rừng núi heo hút, ngút tầm mắt mới có vài nha dân mà rợn người. Lúc bon em đang đứng ở cửa khẩu bắt xe ôm thì có một đoàn toàn teen trạc tuổi mình đi xe tải qua, thấy bọn em thì cả đám ý ới gọi lên đi cùng. Em thì nghi có bắt cóc, quay sang đưa mắt nhìn thằng Việt ra hiệu,thằng Việt khẽ quét mắt qua cả đám rồi gật đầu bảo lên xe được. Xe đi ngoằn ngoèo qua bao đường đất đỏ, đến môt cái cột mộc thì thả tất cả xuống, bảo cứ men theo hướng cái tháp kia là đến, xe chỉ đưa được đến đây thôi. Nhưng đoàn kia hì muốn lên Phù Wát ăn chơi mua sắm rồi thẳng đường lên Phnôm Pênh, còn bọn em thì muốn đi vào những ngôi làng nhỏ để tìm hiểu văn hóa trước rồi mới lên Phù Wát, thế là hai đoàn tách nhau ra, hẹn gặp ở Phù Wát sau 1 tuần nữa, ai đến trước thì chờ ở casino lớn nhất. Sau khi tách đoàn, bọn em cứ mon men theo hướng cái la bàn của thằng Việt mà đi, đang đi thì gặp một đồng chí biên phòng Campuchia đang vác súng đứng canh, thấy bọn em đi qua, nó níu lại, hỏi toàn bằng tiếng Campuchia, nghe có chữ Passport, cả lũ còn đang lớ ngớ thì nó vung cái báng súng lên đinh tương vào đầu thằng Việt. Thấy có biến, em liền quét chân chó nó ngã ra, thằng D đấm bồi 2 phát nữa cho nó gục hẳn rồi cả đám chạy thẳng ra mô đất gần nhất nấp. Nhưng quả đúng là lính biên phòng có khác, ăn một quét hai thụi mà nó dậy ngay được, chửi ầm lên, bắn chỉ thiên 1 phát kêu dừng lại, cơ mà bọn em vẫn chạy tiếp thế là nó bắn liền bốn năm phát về phía bọn em, đúng lúc em vừa lăn người xuống mô đất thì 2 viên đạn bay chéo qua đầu. Em lầm bẩm rủa thầm : "Các đồng chí Campuchia hiếu khách gớm, thế này mà cứ suốt ngày hữu với cả nghị, tý nữa thì mình bị xuyên sọ rồi!". Bỗng nhiên nó ngừng bắn, rút bộ đàm ra định gọi tiếp viện, em hoảng quả kêu thằng D: "Nó rút bộ đàm gọi người kìa mày ơi! Mày ném vài mũi ra dọa nó đi, nhưng à đừng có làm nó bị gì đấy nhớ! !", thằng D mỉm cười, lấy trong bọc ra cái ống thổi tiêu, thổi liền ba phát, tiếng phi tiêu lao đi " Vút! Vút ! Vút!" ý như trong phim chưởng, trong đo có hai mỗi găm xuyên luôn vào cái bộ đàm, thằng Cam kia khiếp quá vội vứt bộ đàm chạy luôn. Sau vụ này, cả đám đứa nào cũng khiếp, riêng Ngọc Anh thì sợ đến nhợt cả người. Đang định đi tiếp thì thằng Việt chạy lại chỗ cái bộ đàm, nhặt lên rút hai mũi tiêu ra rồi đập tan nát cái bộ đàm quẳng luôn sang bên biên giới Việt Nam, nó còn nhặt mũi tiêu đưa lại cho thằng D. Giờ thì em mới ngớ người ra, nếu lúc nãy mà cứ đi tiếp thì kiều gì lúc bọn kia quay lại cũng lấy cái phi tiêu xét nghiệm vân tay rồi gửi về cho chính quyền Việt Nam, lúc đó thì tương lai cả hôi chỉ có nước kết thúc sau song sắt. Quả đúng là những lúc nguy cấp thì thằng Việt vẫn là đứa bình tĩnh nhất, suy xét mọi việc chu toàn.

    Sau kiếp nạn suýt chết, nhóm Dream Team lại tiếp tục hành trình, thẳng tiến đến ngôi làng phía trước. Nhưng điều không thể ngờ là cái làng nhỏ ở biên giới này nó cũng chẳng yên lành gì…

    Chuyện thứ hai mươi hai: Buổi đầu trên đất lạ

    Thoát khỏi chốt biên phòng, bọn em lại tiếp tục đi về hướng ngôi làng phía trước, vừa đi vừa nghĩ lại chuyện vừa xảy ra mà người run lên bần bật, mặt tái mét, nhất là con bé Ngọc Anh, nhìn nó tái xanh cả mặt, nghĩ cũng tội thân con gái mà theo bọn em đi chơi ngu thế này. 

    Đến lúc chiều tà thì bọn em đã vượt qua một quả núi, ngôi làng nhỏ đang ở ngay trước mắt. Ánh hoàng hôn dần dần buông xuống, nhuộm đỏ cả núi rừng đất bạn, cả bốn đứa đứng từ trên đỉnh, bóng thả dài xuống cả triền núi, nhìn lúc đó cảnh vật nó mênh mông, diễm lệ vô cùng, xung quanh là rừng rậm bạt ngàn, vượn hú chim kêu, thấy mình thật là nhỏ bé. Cái cảm giác đó nó phê lắm các thím ợ. Lúc bọn em đến làng thì trời đã muộn, cũng phải vào tầm 7h tối, nhìn quanh một lượt ngôi làng này, thấy nó nằm sát vùng biên giới heo hút mà cũng khá là sầm uất, có đầy đủ nhà nghỉ, khách sạn, phòng tắm, quán ăn,…. nhìn như một thị trấn thu nhỏ. Dân ở đây cũng khá là thân thiện, thấy bọn em đến thì cũng không tò mò xét nét gì cả, ai cứ làm việc người nấy. Bọn em ra chợ, tìm một tay cò người Việt, bảo hắn đổi 8tr VNĐ của bọn em ra Riel, em nhớ không nhầm thì hồi đó là khoảng 2tr, đưa cho cò 50k là còn hơn 1tr9 Riel. Xong xuôi tất cả, cả bọn đi tìm một nhà nghỉ qua đêm, may là tìm được một nhà nghỉ có chủ là hai vợ chồng già người Việt, trả giá khá thoải mái, chỉ hết có 20k riel cho phòng đôi và phòng đơn. Sau đó thì cả lũ đi ăn uống, mua sắm linh tinh rồi về nhà nghỉ, ở đây mặc cả vô tư , người biết tiếng Việt rất nhiều, có khi còn cò cưa xuống còn 2/10 giá lúc đầu. (Kinh nghiệm cho các thím định sang Cam chơi là cứ mặc cả nhiệt tình ở các khu chợ vì dân bản xứ thấy khách nước ngoài thì thường chém lên 40%). Và khi đã no nê vác bụng về nhà nghỉ, bọn em phân chia giường ra, Ngọc Anh sẽ ngủ bên phong đơn còn ba thằng thì ngủ bên phòng đôi. Bây giờ nghỉ ngơi thoải mái thì em mới để ý là thằng Việt từ tối tới giờ cứ liếc trước liếc sau như đề phòng cái gì đó, em và thằng D gạn hỏi thì nó khẽ nói :

    - Chỗ này âm khí rất nặng!

    - Thằng D cười bảo : 
    - Ôi dào! Ông tướng nhìn đâu cũng ra ma với quỷ, anh là anh chấp tất!

    Thằng Việt ra bóp cổ thằng D ghì xuống, vừa cười vừa dọa : 
    - Cái mồm ăn mắm ăn muối! Chú dám bỏ ngoài tai lời vàng khuôn ngọc của anh hả? Thằng H ra đây úp nó với tao!

    Nhưng mà thằng D khỏe quá nên bọn em không vật nó xuống được, lại còn bị nó quật ngược lại. Một tay xách thằng Việt, chân thì đạp lên lưng em, nó cười hả hả, đưa cái tay còn lại lên vuốt cằm. Em cuống quá hét lên : "Ối làng nước ơi có thằng gay nó hiếp bọn tôi!". Vừa dứt tiếng thì mấy phòng xung quanh bật dậy, mở tung cửa phòng bọn em ra, vào trong thì thấy ngay ba thằng giặc đang đùa nhau, họ ngán ngẩm lắc đầu bỏ về phòng. Chờ lúc mọi người đi hết thì thằng D trùm luôn cái chăn lên đầu em đấm thùm thụp vào người, nó la ầm lên cái câu em hét vừa nãy, cười khoái trá : "Mày chưa nghe chuyện Thằng bé nói dối và đàn cừu nhỉ!", lúc này thằng Việt đang ngồi góc phòng ôm bụng cười, cứ nhìn vào em mà chửi ngu quá, im lăng như nó có phải hay không. Đang vui thì tự nhiên có tiếng chó mấy nhà xung quanh cắn nhấm nhẳng, thằng Việt vội im không cười nữa, thằng D cũng buông em ra, khẽ bảo : "H, mày thấy chưa? Hành động bỉ ổi của mày làm quỷ thần cũng phải nổi giận đấy! Thằng Việt lần này đ' cứu mày đâu, chịu chết đi con trai!" , rồi nó quay sang thằng Việt: "Nhề còi nhề!". Thằng Việt vẫn im lặng, nhoài người ra vén rèm cửa nhìn xuống đường, chẳng biết vừa thấy gì mà nó rụt ngay vào. Em với thằng D giờ bắt đầu thấy ghê ghê người rồi nên không đùa nữa, quay sang hỏi thằng Việt co chuyện gì, nó bảo hai thằng :

    - Chúng mày có thích xem ma không, tao cho xem phát nữa! Lần này nhiều lắm luôn.

    Em nghe thì nhớ lại cái đêm ở hiên nhà nó nên lắc đầu quầy quậy, sống chết cũng không nghe. Còn thằng cốt đột kia vừa nghe ma là đã teo người lại, nhưng một lúc sau chẳng biết nó nghĩ gì mà lại đồng ý. Thằng Việt đưa cho nó một mảnh gỗ, bảo ngậm ngang miệng thì thấy, sợ quá thì bỏ ra là lại nhìn bình thường. Thằng D làm theo, nó và thằng Việt vén rèm nhìn xuống đường, nhìn một lúc lâu thì nó quay lại bỏ luôn thanh gỗ ra, lắp ba lắp bắp : 

    - Mày…ơi..dưới kia…nó đông lắm…đi đầy đường! -Hít một hơi rồi nó nói tiếp - Mà đứa nào đứa đấy cũng ghê, đứa mất đầu, đứa mất tay chân, có đứa chỉ còn nửa ngươi trên cứ bò bò trên đường! 

    Em nghe nó nói xong thì tý nữa són cả ra quần, chợt em hỏi lại : 
    - Thế trong phòng mình có không?

    Nó đáp luôn: 
    - Không có! Nó mà có thì tao còn ngồi đây được à? Chúng nó chỉ ở ngoài đường thôi, đứa nào đứa nấy vật vờ như nghiện ý.

    Nghe đến đây thì em tạm yên một chút, nói chuyện với nhau một lúc rồi đi ngủ. Chợp mắt được một lúc thì cả ba thằng bật dậy bởi tiếng động cơ cam nhông gầm rú ngoài đường, sau đó là tiếng ầm ầm như ai nổ mìn vậy. Chừng hai mươi phút thì lại yên, cả bọn lại ngủ tiếp. Sáng hôm sau ngủ dậy, đi xuống nhà, thằng D hỏi luôn hai vợ chồng chủ về cái việc tối qua thì bọn họ bảo ở đây đêm nào cũng vậy, suốt hai mươi năm nay nên dân ở đây quen rồi, nhưng mà tiếng động thì có nghe thấy còn ma quỷ thế nào thì chẳng ai nhìn rõ cả, ngoài mấy ông say xỉn đi chơi đêm về. Lúc đi ăn sáng, em khẽ hỏi Ngọc Anh xem tối qua con bé có thấy gì không, nó trả lời : 

    - Có chứ! Nó còn đi vào dọc hành lang và cả phòng khác nữa, nhưng hai phong mình thì vẫn yên, không có đứa nào dám vào cả!

    Ngày hôm đó, bốn đứa bọn em đi mua sắm linh tinh trong khu chợ, rồi mon en vào trong mấy chỗ sát chân núi chơi, thấy trong đó có mấy cái nhà bằng đất,đá, trong đựng đấy hộp sọ, xương cốt người chết từ nạn diệt chủng Khmer Đỏ, vào trong đó thấy cũng có nhiều khách du lịch tây ba lô, dân bản xứ đang thắp hương tưởng niệm, bọn em cũng thắp hương rồi đi xem tiếp. Lúc đi loanh quanh thì thấy có mấy lão gì đó người Campuchia, nhìn mặc quần áo xộc xệch, người lem luốc cứ đi đi lúc lại nhặt một cái hộp sọ lên ngắm nghía, có lão còn lén bỏ một cái hộp sọ vào trong bị đeo bên mình. Em với thằng D nhìn thấy thế thì tức lắm, Ngọc Anh cũng bực bội, kêu bọn kia thất đức, mấy đứa đang định ra nói phải trái thì thằng Việt giằng tay lại, thì thầm : 

    - Bọn này là Nam tông chính gốc đấy, chúng nó nhặt sọ về để luyện bùa. Nhưng mà bây giờ mình đang đứng trên đất bản địa nhà nó nên tao không đủ sức đánh cả mấy lão đâu! Mình cứ nhịn đã, tối về rồi tách dần từng thằng ra mà xử cho chừa cái tội luyện quỷ bùa hại người.

    Nghe nó nói thế bọn em mới để yên, lúc đó thằng D đã cầm sẵn ba viên bi sắt trong tay rồi, chỉ chực ném ra. Về nhà nghỉ, thằng Việt gọi cả bọn vào trong phòng, ngồi quây lại rồi bảo :

    - Bây giờ mình đang trên đất khách, vong quỷ chỗ này nó chưa quen mặt tao nên tao không goi âm binh lên đánh được, bây giờ mình mới đi mộ quân đây. Tao đoán là ma quỷ quanh đây cũng oán bọn kia lắm, nhưng chưa làm gì được chúng nó thôi.

    Nói rồi nó xách túi đồ nghề, dân cả bọn ra cái vườn phía sau nhà nghỉ. Nó lấy từ trong túi ra một con ốc biển xà cừ rất đẹp, lại to nữa. Nó lấy từ một sợi tóc, riêng em thì nó lấy đến 4 sợi, bảo là tóc em có giá nên dễ gọi hơn, em cũng chẳng hỏi gì cứ ngắt luôn 4 sợi mái ra cho nó. Sau đó, nó nhét tóc của cả bốn đứa vào trong con ốc, lấy một mẩu hương oải đốt lên rồi bỏ vào trong, rồi lại rút ra một lá bùa màu xanh lục, đốt lên, hươ hươ trước mặt cả bọn rồi lẩm nhẩm niệm chú, bỏ cả lá bùa vào trong con ốc. Lá bùa đang cháy âm ỉ, vừa bỏ vào ruột con ốc thì cháy bùng lên xong lại tắt ngay, mủn ra thành tro. Thằng Việt lắc đều cái vỏ, nói xì xầm gì vào trong đó, nó nói xong thì cây cối rung ào ào như có bão, thằng Việt mỉm cười bảo : "Được rồi đấy! Giờ thì phải nhờ đến cái miệng lưỡi của mày đấy H ạ! Thuyết phục chúng nó sao cho nghe lời mình là được."

    Em nghe mà thấy lạnh chạy dọc sương sống, nhưng đâm lao thì phải theo lao, gọi bọn nó đến mà không có vài câu thì chắc chết không ai biết mất.Thế rồi em vận dụng hết cả bộ óc, cái lưỡi và 1 năm học Luật của mình ra mà lí luận, phân giải thiệt hơn,…. Hễ em nói xong cái gì là thằng Việt lại nói thầm vào trong vỏ ốc như dịch lại, sau đó thì áp tai vào nghe xem " bọn nó" nghĩ sao. Sau khi nói rã cả quai hàm, lôi đủ thứ chuyện trên trời dưới đất ra phân tích, thuyết phục, đến khi óc em rỗng không còn ý gì nữa thì thằng Việt nói xì xầm vào trong vỏ ốc rồi ghé tai vào nghe, quay ra mừng rỡ bảo em : 

    - Được rồi đấy! Hẹn "chúng nó" là đêm mai khao quân rồi thì tùy ý tao sử dụng. Công nhờ cả mày đấy H ạ! Sau này chắc bọn tao gây án thoải mái rồi cứ nhờ mày bào chữa mất. 

    Nghe nó nói thế em phổng mũi lên, nở đến từng khúc ruột, không thể ngờ được bài thực hành đầu tiên của mình lại thành công đến thế, lại còn thuyết phục được cả "người không còn sống" nữa chứ. Cơ mà em vẫn cứ sợ teo tờ rym lại, nhủ thầm là từ giờ đến cuối đời không nên "làm ăn" với "khách hàng" loại này nữa, nó mà có gì thì chắc mình chết không có chỗ chôn. 

    Sáng hôm sau, bọn em dậy sớm ra chợ mua gà, gạo nếp, thịt, bánh trái hoa quả về để chuẩn bị cho cỗ khao quân đêm nay. Đêm nay Việt phù thủy sẽ ra tay vì đại nghĩa theo lời thệ, và bọn em là những người "cùng kề vai sát cánh trên con đường hành hiệp trượng nghĩa", "đi đường thấy chuyện bất bình thì ra tay tương trợ, chỉ cần có biến là vung cước, xuất quyền…..bỏ chạy giữ mạng"

    Chuyện thứ hai mươi ba : Bắt đầu luyện quân

    Ngày thứ ba trên đất Campuchia, …
    Sáng nay ba thằng dậy từ lúc 5h sáng, đánh răng rửa mặt xong qua gọi cửa Ngọc Anh thì con bé đã dậy từ bao giờ rồi, đang ngồi chơi điện thoại, đúng là con gái có khác, đi chợ dậy rõ sớm, chăm chỉ quá cũng hại thân. Ăn sáng qua loa dưới nhà khách với mấy người khách trọ khác rồi cả bốn đứa kéo nhau đi ra chợ. Mọi chuyện mua bán, mặc cả đều giao cho Ngọc Anh cả, ba thằng chỉ có nhiệm vụ đi theo bảo vệ và ngắm các chị đi chợ sớm. Nói vậy chứ bọn em cũng có ích lắm, nhìn thấy một đứa con gái hiền hiền ăn nói nhỏ nhẹ mà đi chợ là mấy bà bán hàng chém ngay. Nhưng khi nhìn thấy đi cung là ba thằng, một thằng đột biến cao 1m87 nặng 95kg, cơ bắp cuồn cuộn, mặt nhìn chai đá, một thằng thì da trắng như người chết, lừ lừ đi theo, mắt vô hồn quét khắp lượt và một thằng nhìn hiền lành, thư sinh mà ánh mắt sắc lạnh, tay cứ chống hờ bên thắt lưng (bên trong dấu một sợi roi cửu tiết). Trông ba ông hộ pháp như thế thì có cho tiền các bà cũng chẳng dám nặng lời với con bé kia.

    Lông bông khắp chợ đến tận 8h sáng, bọn em cũng mua được một con gà trống, gạo nếp đồ xôi, thịt lợn, hoa quả, bánh. Đem về mượn bếp bà chủ nhà nghỉ để làm con gà và đồ xôi thì bà còn cười vui vẻ, xắn tay vào làm giúp, có vẻ như thằng Việt đã giải thích trước với hai vợ chồng chủ nên họ mới thoải mái thế, chẳng gì thì cũng tự nhiên có người đến giải quyết mấy vụ hồn ma bóng quế, dân làng cũng yên ổn làm ăn. Trong lúc bà chủ và Ngọc Anh làm trong bếp thì em và thằng D được ông chủ nhà giao công việc giã thịt để gói nem, ông bảo không cũng thì thôi chứ đã cúng thì phải đàng hoàng, tinh tươm mới tỏ lòng thành. Riêng thằng Việt thì là nhận vật chính nên ông bảo nó lên tầng nghỉ ngơi cho tĩnh tâm, thanh thản, vừa nghe xong thì nó chạy tót luôn lên phòng, khoái trá cười vọng lại : 

    - Hai vị ái khanh ở đó lo việc bếp núc đi nhé! Trẫm phải đi lo chuyện đại sự. Làm cho cẩn thận vào, tối cũng xong thì trẫm ban ân cho cùng ngồi Ngự Thiện. 

    Hai thằng tức cành hông mà không làm gì nó được,quay ra lấy hai cái cối đựng thịt rồi bắt đầu giã, em và ông chủ yếu người nên hai người giã một cối, thằng D thì kiêm nguyên cối kia. Nói yếu thế thôi chứ ông chủ già mà còn khỏe lắm, giã ngang sức với em mà không rỏ một giọt mồ hồi, hơi thở cứ đều đều. Hai người đang giã thì chợt ngưng lại bởi tiếng chày thình thịch dồn dập, cả hai quay sang chỗ thằng D nhìn thì cùng đứng hình, mắt chữ O mồm chữ A luôn. Bây giờ em mới thấy anh cốt đột đại triển thần uy giã nem của mình, thằng D hai tay cầm hai cái chày nặng ngót 10 cân, cứ thế giã đều đều không dứt xuống cối, cơ bắp người nổi lên cuồn cuộn, mấy chị trọ và mấy cô hàng xóm nhìn qua cứ ồ à, trầm trồ như thấy lần đầu. Em tưởng tượng nó mà giã hai cái chày đó vào mình thì chắc đem xẻng mà dọn xác mất. Nhưng dụng tốc thì bất đạt, thằng D giã quá nhanh làm thịt không nhuyễn mà nát luôn, báo hại lúc ba người gói nem nó cứ bở bục ra, cả dãy phòng dưới theo dõi bọn em từ nãy tới giờ, thấy vậy thì cười ầm lên, anh D "sung mãn" ngượng quá chạy tót lên phòng với thằng Việt, nhưng ngay sau đó là một tràng cười xỉ nhục của thằng Việt vang lên, và tất nhiên tiếp theo là một loạt tiếng kêu cứu, gào thét từ chính nó. Gói xong nem thì em chạy lên gia nhập, vừa vào phong thì thầy thằng Việt đang nằm bẹp dưới đất, bị trùm cái chăn lên trên, thằng D thì ngồi lên trên cả cái chăn và thằng Việt cười man rợ : 

    - Giờ thì ai đang cười hả Bệ hạ?

    Thằng Việt ở trong chăn cười sằng sặc, thò cái ổng thổi hương ra ngoài : 
    - Nếm thử Mê hồn hương của ta đây!

    Thằng D vốn biết tiếng chế thuốc của thằng này nên nín thơ lại, chụp lấy cái ống rồi thổi ngược vào, thằng Việt ở trong chăn vừa cười vừa ho sặc sụa, hóa ra nó nhét thuốc linh tinh vào trong đó để dọa thằng D rồi thoát ra, nhưng lại không ngờ đến chuyện này. Thằng D hé chăn ra một lúc cho khói bay hết, sau nó hỏi thằng Việt thấy thoải mái dễ thở chưa, thằng Việt bảo :

    - Đem tiến cống cho trẫm cái gì ăn thì trẫm ra ban thưởng cho khanh hậu hĩnh!

    Vừa nghe xong thì thằng D cười lên một tràng cười đểu giả, nó hé cái chăn lên, chõ mông vào rồi …bủm một cái, xong lại trùm chăn lại, nói to: 
    - Đây là hương hoa Tây Vực ngàn năm mới có, kính thỉnh hoàng thượng ngự lãm!

    Em kinh hoàng khi thấy trò độc ác của nó, vội lao vào cứu thằng Việt, nó liền lao ra ghì em xuống, nhân lúc đo thằng Việt vùng dậy trùm cái chăn trên giường úp lên thằng D, cả hai thằng lao vào đấm túi bụi, thằng D trơ trơ ra, cười bảo :

    Đa tạ đã cho ta tấm lá chắn mới! Hai thằng ở ngoài cứ từ từ thưởng thức nhé!

    Nghe nó nói xong thì em và thằng Việt chột dạ , hít hít xung quanh, một thứ mùi kinh tởm đang dần lan tỏa khắp phòng, em và nó lao luôn ra hành lang,lấy chai X-men của em đem vào xịt lấy xịt để. Nhưng cái mùi nó vẫn ám vào áo quần, ba thằng lại giành nhau cái nhà tắm. 

    Đến tối thì mọi thứ đã chuẩn bị xong ở vườn sau, ông bà chủ nhà cũng ra cùng. Đúng 9h, bày biện xong tất cả thì thằng Việt mặc áo cánh hạc bước vào. Nó tay trái cầm cái trống bỏi lắc liên hồi, tay phải cầm kiếm chỉ đông chỉ tây rồi cắm xuống bát hương. Bất ngờ, gió mạnh lại nổi lên, bốn phía vang lên những tiếng ầm ầm, tiếng rào rào như mưa to. Cả mâm cỗ còn đang nghi ngút khói bỗng dưng nguội hết cả, duy hoa quả thì không thấy có động gì. Thằng Việt đọc to một bài toàn tiếng lạ, sau là bằng một bài dài dằng dặc như thế nhưng lại bằng tiếng Việt, kết thúc bằng câu : " Ăn của ta thì phải nghe ta! Quân kỉ nghiêm minh, tình bất vị nể! Tất cả theo lệnh ! ". Sau đó nó rút một cây cờ đen, phảy lên phảy xuống, chỉ trái chỉ phải, cứ kết thúc một hồi chỉ là lại có tiếng ào ào vang vọng. Hai thằng bọn em sợ run cầm cập, vậy mà nhìn sang vợ chồng chủ nhà vẫn thấy họ điềm nhiên như không. Sau rồi thằng Việt ra hỏi hai ông bà chủ nhà có việc gì nặng nhọc cần làm không, hai ông bà bảo là có ý định đào một cái ao con con ở đây để khách đến có chỗ chơi, nhà ngay bên cạnh suối mà không làm được vì hai ông bà yếu quá, thuê mướn thì chẳng có ai làm. Thằng Việt gật đầu rồi nó bảo ông chủ nhà dẫn nó đi lấy cái gầu tát nước, một cái xô vôi, một cái chổi quét. Một lúc sau hai người về, thằng Việt đốt một lá bùa rồi hòa vào vôi, đem ra quét một vòng tròn rộng đúng cỡ cái ao ông bà muốn, rồi nó cầm cờ phất một cái, nói một câu lệnh tiếng Cam, một câu tiếng Việt : 

    - Đêm nay đào cái ao rộng chừng này, sâu 2m, đào xong thì tát nước từ suối vào cho đầy, hẹn xong trước lúc gà gáy, làm xong đêm mai ta khao bánh oản với xôi thịt một mâm. 

    Xong xuôi tất cả, no và ông chủ nhà đi dặn hết khách trọ và hàng xóm xung quanh đêm nay không được bén mảng ra vườn sau. Thu dọn bàn cũng rồi đem vào nhà, nó cầm ba nén hương đốt lên rồi vung một vòng quanh mâm cỗ, bảo thế là ăn được rồi đấy. Em với thằng D không tin nên véo thử một nhúm xôi ăn, không hiểu sao giờ nó vẫn cứ ấm nóng thơm ngon như thường, chưa có vẻ gì là nguội cả, cũng chỉ hơi mất nhiệt ý như đồ thường để qua thời gian như vậy. Bọn em đem vào cho ông bà chủ thì ông bà chủ bảo mấy thằng đem lên phòng mà ăn, đêm nay mệt nhọc nhiều rồi. Thế là bọn em đem lên tầng, chia cho cả mấy phòng xung quanh, họ thấy có cỗ thì cũng chẳng hỏi nhiều, cảm ơn rối rít rồi đem vào. Đêm đó , bốn đứa ngồi ăn no căng bụng rồi mới đi ngủ. 

    Sáng ngày hôm sau, em với thằng D. 8h mới dậy, chạy thằng luôn xuống vườn sau. Đập vào mắt bọn em là một cái ao đã đào từ lúc nào, đầy ăm ắp nước, mấy nhà hàng xóm và khách trọ đang đứng đầy xung quanh bàn tán xì xào. Sau đó thì là ăn sáng và lại đi chợ mua đồ ăn thức uống, đồ cúng các thứ. Nhưng lúc bọn em đem về thì ông bà chủ lại kéo lại đưa cho 1tr Riel, bảo đây là tiền của mấy nhà xung quanh đem góp hết vào để cảm ơn nhóm bọn em giúp làng giải yêu giải ma. Còn đang dùng dằng không chịu thì thằng Việt bước ra cảm ơn và nhận tiền, bảo bọn em : 

    - Họ cho bao nhiêu mình cứ nhận tất để còn dùng cho lân sau, miễn mình không dùng tất cho bản thân là không vi phạm thệ, thế là được!

    Bọn em nghe xong thì cũng không bảo sao nữa, nhưng nghe thằng Việt nói "lần sau" mà em thấy rờn rợn, chẳng lẽ cái đất Campuchia này lắm chuyện đến thế sao mà còn phải giải quyết nữa. 

    Chuyện thứ hai mươi tư: Mượn binh làm tròn lời thệ

    Ngày thứ tư, buổi sáng sớm cả bọn lại dậy tiếp và lại đi chợ, lần này mua đồ nhiều hơn hôm qua. Hôm đó bọn em làm hai mâm y hệt như hôm qua, đến trưa thì xong tất cả. Còn buổi chiều thì lên chỗ khu nhà tưởng niệm, thắp hương cho các nạn nhân, đồng thời cũng tiện thăm dò mấy lão kia. Sau khi thắp hương xong thì bốn đứa lại dạo một vòng quanh khu nhà đất, vẫn gặp mấy lão thầy kia, nhưng hôm nay mấy lão chẳng nhặt nhạnh cái sọ nào, chỉ xem xem rồi đặt xuống, quay ra nói xi xa xí xô cái gì đó với nhau. 

    Khoảng tầm 8h tối thì thằng Việt lại mặc áo lên đàn, lần này nó bảo bê trước một mâm ra. Hôm nay, nó lấy từ trong túi ra một cái sừng trâu cong vút, rắc vào đó một ít bột rồi lại thả 3 cái lá cây gì gì vào trong, sau đó đưa lên bụm miệng thổi. Bọn em đứng ngay đó mà chẳng nghe thấy tiếng gì cả, cứ nghĩ là sẽ có tiếng tu tu như tù và cơ, nhưng thằng Việt vừa rời cái sừng trâu ra khỏi miệng thì gió lại nổi lên ào ào, tiếng uỳnh uỳnh vang lừng bốn phía. Nó lấy ra một cây cờ xanh, phẩy hai cái rồi đọc to một tràng tiếng Cam, tiếng Thái, tiếng Trung,… trong đó có một câu tiếng Việt : 

    - Giữ lời hứa! Hôm nay khao quân đủ xôi thịt, bánh oản để bù cái công khó nhọc đêm qua. Còn đêm nay làm xong việc thì ta lại thưởng thêm để úy lạo quân sĩ. 

    Đọc xong một tràng đó thì thằng Việt trỏ cây cờ vào mâm cúng trên bàn. Được một tiếng thì hương tàn. Nó cầm cây cờ đen, phất liên tục ra bốn phía, cuối cùng cầm cái trống bỏi lên lắc liền tay. Bỗng nhiên bốn phía nổi lên tiếng reo hò ầm ầm như sấm, sau lại lặng ngắt như tờ ngay lập tức. Thằng Việt bước ra ngoài ngồi nghỉ, nó đưa hai thanh gỗ ra cho em và thằng D, bảo muốn xem thì ngậm lấy, thằng D lắc đầu như điên, sống chết cũng không chịu cầm lấy thanh gỗ, em cũng kêu : 

    - Việt ơi! Mày làm ơn tha cho quả thận quý giá của tao cái! Lần trước ở hiên nhà mày tao đã suýt ra quần rồi. 

    Thằng D nghe xong thì hình như nó linh cảm điều gì đó, hỏi lấy hỏi để em với thằng Việt là đêm ở hiên làm sao. Con bé Ngọc Anh đứng đó cứ nhìn bọn em mà cười. Sau một hồi tra hỏi thì anh cột đột cũng biết được quá khứ oan nghiệt của mình. Mặt nó chuyển dần từ tím sang đỏ và cuối cùng là màu trắng bệch, nó quay sang cố gắng cười, hỏi Ngọc Anh:

    - Anh là anh cứng vía lắm nên anh không sợ đâu. Ngọc Anh tốt bụng, dễ thương, ngoan ngoãn,….nói anh nghe xem nào. Có đúng như hai thằng giặc kia nó nói không? À mà thôi, em chỉ cần gật hay lắc đầu cũng được rồi!

    Ngọc Anh rụt rè gật đầu, ngay lập tức thằng D hét toáng lên, người bủn rủn, quay sang bọn em gằm ghè: 

    - Quân khốn kiếp dám xỏ anh suốt ngần ấy năm! Tý nữa có bao nhiêu đồ tao ăn hết, không nhường cho chúng mày miếng nào nữa. 

    Em và thằng Việt kinh hoàng, gật lấy gật để, bảo nó muốn ăn bao nhiêu cũng được chú hai thằng còm có mỗi bộ khung khô, nó mà đánh thì chết mất. Đang đùa đùa nhau thì tự nhiên có tiếng rầm rập, rồi cây cối rung lên ào ào như bão về. Thằng Việt đứng lên, gật đầu bảo được rồi đấy, nói đoạn nó lại bước vào đàn, tay cầm cây cờ đỏ phất một cái, sau đó thì cỗ bàn tự dưng nguội hết y như đêm qua. Xong xuôi tất cả lại dọn hai mâm vào trong như cũ, và lần này thì thằng D nốc hết nguyên một mâm. Em và thằng Việt ngồi đó nhìn nó ăn mà kinh hãi, em hỏi : 

    - Anh hỏi khí không phải! Thế chú cầm tinh con gì vậy?

    Thằng Việt đốp luôn, giả giọng thằng D : 
    - Tôi tuổi con nằm đất thè lưỡi! 

    Em hùa theo :
    - May mà chú cầm tinh con chó chết, chứ chú mà cầm tinh con chó sống thì chúng tôi phải chạy trước.

    Thằng D gầm lên, cầm cả miếng oản nhét vào mồm em, rồi nó lấy thêm miếng xôi to bằng nắm tay nhét vào mồm thằng Việt. Em suýt chết ngẹn vội cắn rời miếng oản ra rồi nuốt từ từ. Quay sang phía thằng Việt, em lại lần nữa táng hồn khi thấy nó cười cười, cái môi căng rộng ra, hai bên má phồng lên, nhai nhai vài cái hết cả nắm xôi rồi nuốt cái ực, nó còn cười sằng sặc hỏi thằng D có còn nữa không. Em nhìn sang thằng D thì thấy nó cũng đang kinh hãi không kém, mồm còn miếng thịt gà mà cứ há hốc mồm ra, nhưng ngay lập tức nó vội vàng vơ hết chỗ cỗ còn lại ăn lấy ăn để, nhìn thằng Việt với ánh mắt đề phòng, một chân thì giơ ra cản thằng Việt. Thằng Việt thấy thế thì bơ như không, rút lấy sợi cử tiết ra rồi quăng ra sau lưng thằng D móc lấy cái đùi gà, kéo về nhồm nhoàm nhai. Thằng D đang ăn, sờ tới cái đùi thì không thấy đâu nữa, quay sang thì thấy thằng Việt đang nhai, nhìn khắp xung quanh thấy đầu sợi roi của thằng Việt còn bóng nhẫy mỡ. Nó vội bê hết cả mâm ra góc rồi ngồi ăn nhanh hơn nữa, đang ăn điên cuồng thì Ngọc Anh bước vào bê khay bánh bao hấp ăn đêm cho mấy đứa. Thằng D vừa nghe tiếng cạch cửa thì vội ngồi ngay ngắn, ăn nhỏ nhẹ từ tốn ngay lập tức.Lúc Ngọc Anh vừa ra khỏi phòng thì thằng D lại ăn như bản chất đê tiện của nó, ăn hết chỗ cỗ, nó nhìn sang khay bánh bọn em đang ăn với anh mắt kì lạ, nó cười hề hề rồi ngồi dịch dần lại chỗ hai thằng. Thằng Việt vội phủ đầu : 

    - Thằng kia ăn thế còn chưa chán lại muốn thêm! Hầy! Lòng tham thật là không đáy mà! Nếu thí chủ muốn đớp chỗ bánh này thì bước qua xác của hai lão nạp đã! 

    Vừa dứt lời thì thằng D xồ tới, không ai ngờ được là nó lại chơi võ, cướp ngay được một cái bánh. Em và thằng Việt vội giơ tay lên thủ thế, giữ vững trước các đòn tấn công như vũ bão của thằng cốt đột biến thái kia. Cơ mà đến ông tổ nó sống lại cũng không thể ngờ được thằng cháu chân truyền võ nhà mà lại dùng đến ngón cầm nã thủ gia truyền để cướp mấy cái bánh, cướp được quá nửa chỗ bánh rồi ăn hết sạch, thằng D no nê vác bụng về chỗ nằm, cười khoái trá kêu bánh ngon. Em và thằng Việt đành ngậm ngùi chia nhau số bánh còn lại sau vụ cướp trắng trợn. 

    Mấy thằng ăn no phè phỡn, đang nằm đọc truyện trên lap thì tự nhiên có tiếng mở cửa rồi Ngọc Anh chạy luôn vào phòng bọn em, mặt con bé tái mét. Bọn em hỏi có chuyện gì thì nó kêu là nhìn thấy ma, em lấy làm lạ vì con bé này thấy ma từ khi mới sinh ra, chưa sợ bao giờ mà sao lần này nó lại khiếp đến thế. Còn đang trấn an, vỗ về nó thì tự nhiên có tiếng đập ruỳnh ruỳnh vào cửa sổ, cơ mà lúc này bọn em đang ở tầng hai thì đập thế quái nào được. Bống nhiên cái cửa sổ mở tung ra, gió lùa vào lạnh ngắt. Em vội chạy ra chốt cái cửa sổ lại. Con bé Ngọc Anh thì sợ quá cứ nằng nặc không chịu về phòng, thế là 3 thằng lại ra hết ghế ngoài hành lang chém gió, cú đêm, dặn con bé là có gì lạ thì kêu lên bọn em sẽ vào ngay. Ba thằng ngồi một lúc, đang một tấc đến giời thì tự nhiên em thấy hành lang lại có hơi lành lạnh. Kiểm tra lại bộ nhớ thì em nhớ rõ ràng là hành lang này không có cửa sổ gì cả, lại thiết kế để không hút gió được. Vội quay sang bảo hai thằng kia thì thằng D cũng kêu là thấy hơi lạnh. Đột nhiên, thằng Việt đứng phắt dậy, kêu lên : "Có chuyện rồi!". Xong nó lao vào phòng, nhưng cửa lại không tài nào mở được, cứ như bị ai giữ ở trong. Em và thằng D vào gồng tay lên ấn mạnh cái tay cầm thì cửa mở toang ra. Đập ngay vào mắt ba thằng là con Ngọc Anh vẫn còn nằm ngủ im trên cái giường kê sát cửa, phía bên ngoài cửa sổ là một thứ gầy trơ xương, ăn mặc rách rưới, tóc lơ xơ vài sợi lộ ra cái đầu trắng hếu. Cái bóng đó đang vịn tay vào song cửa, cặp mắt đỏ ngầu nhìn chằm chằm vào con Ngọc Anh. Ngay lập tức thằng Việt lao đến chỗ cái túi, móc ra một cây thẻ bài bằng xương hay ngà gì đó, lấy móng tay cạo vài vạch lên rồi giơ ngang lông mày đọc rì rầm trong miệng, sau đó thì nó ném thằng cái thẻ về hướng cửa sổ, cái bóng rú lên một tiếng rồi tụt xuống. Thằng Việt vơ luôn túi đồ, quăng cái túi ám khí cho thằng D và cây côn gấp cho em, còn nó thì vắt sợi roi vào thắt lưng. Xong nó đánh thức con em dậy, kêu xuống nhà ngồi chờ ở gian khách, không được ở một mình. Xong rồi thằng Việt cứ thế lao vọt ra đường, bọn em cũng đuổi theo. Trên đường, em với thằng D theo sát bên nó, hỏi : 

    - Mày làm cái gì mà đang đêm chạy ra đây vậy?

    Thằng Việt trả lời :
    - Có đứa dùng sọ người luyện thành bùa độc rồi, bây giờ phải đi trừ tân gốc nó không để lâu gây họa lớn mất.

    Bọn em nghe xong chẳng hiểu bùa độc là cái gì nhưng cũng cứ chạy theo. Chạy ngoằn ngoèo qua mấy khúc đường đất thì đến một gian nhà đất ngay sát chân núi. Thằng Việt dừng lại, lấy từ trong túi ra ba lá bùa, quấn một lá vào sợi roi của nó rồi đốt, lại đốt thêm một lá thành tro rồi rắc vào cái bọc của thằng D, đợi em ráp xong cây côn thì nó cũng làm với cây côn y như với sợi roi vậy. Xong nó lấy ra ba bông lúa khô còn ngậm đòng, bảo bọn em cái vào người đừng để rơi ra. Thế rồi nó đạp tung cửa cổng mà bước vào, thấy động, một lão trong nhà chạy ra, chính là một trong mấy lão hôm nọ. Vừa thấy bọn em lăm lăm vũ khí sấn vào thì lão ném ra một nắm muối, thằng Việt vội phất cái vạt áo cánh hạc ra hất đi, ba thằng lại vào thằng trong nhà. Vào trong nhà thì một mùi thối khẳm đến nhức óc xộc vào mũi, em với nhìn quanh tìm công tắc điện mà không có, thế là cứ nheo mắt lại mà nhìn. Trong khoảng tranh sáng tranh tối, bọn em nhìn thấy lão kia đang loay hoay mở một cái hũ sánh. Thằng Việt hét lên :

    - Không được để cho nó mở cái hũ!

    Nói đoạn, nó quăng cây cửu tiết ra quấn lấy lưng lão kia rồi kéo giật lại, lão ngã sóng soài ra đất, lồm cồm bò dậy thì em với thằng D lao ra, thằng D vít tay lão ra sau, em thì dí cây côn ghì xuống lưng lão. Thằng D mặt đỏ phừng phừng, gầm ghè: 

    - Mày định hại con bé Ngọc Anh hả? Nó có làm gì mày chưa?

    Thằng Việt bước tới, giật một nhúm tóc trên đầu lão, gói vào trong một lá bùa vàng, đốt xèo xèo, bảo : 

    - Từ nay xem mày có dám hại người nữa không? Làm nghề này là để mày tác oai tác quái đấy phỏng ?

    Rồi nó bước ra sân, lấy trong túi ra một cuộn dây mảnh, bằng vải, bảo bọn em cầm kéo cái sợi đi hết quanh đất nhà này rồi vòng về. Sau đó thì nó đưa cho bọn em mỗi đứa một xấp bùa, bảo cứ cách 1m thì treo một cái lên dây, treo xong, nó đốt một cây hương to bẳng hai ngón tay rồi đi châm vào từng tờ bùa một. Đây là lần đầu tiên em thấy nó đốt lắm bùa như vậy. Đơi đến khi bùa và dây cháy hết thì bọn em kéo nhau về, thằng Việt còn quay lại nói một câu gì đó bằng tiếng Trung, rồi đi thẳng. 

    Về đến nhà nghỉ thì thấy Ngọc Anh đã chờ sẵn ở dưới rồi, vừa thấy bọn em về là con bé lao ra hỏi han đủ điều. Nghe bọn em kể lại xong, nó cứ cúi đầu, xụ mặt xuống ra điều mình đã làm sai cái gì đó nên bọn em mới phải chịu vậy. Đêm hôm đó cả lũ đều không ngủ được. Sáng hôm sau thi bọn em ăn sáng xong là ở luôn trên phòng, hai thằng gạn hỏi thằng Việt về nguyên nhân chuyện đêm qua, nó mới từ từ trả lời. Hôm đó, qua lời kể thằng Việt và Ngọc Anh, hai thằng lại biết thêm một chuyên đau lòng về quá khứ của gia tộc họ Trương.

    Chuyện thứ hai mươi lăm: Quá khứ huy hoàng và máu

    Hôm đó, qua lời kể của thằng Việt và Ngọc Anh, quá khứ hoàng kim của gia tộc họ Trương dần dần sống lại. 
    ………………………….

    Bắt đầu từ những năm giữa nhà Minh, nổi lên họ Trương có tài bùa phép, suốt dọc miền Giang Nam đâu đâu cũng nghe tiếng phù thủy nhà này lắm tài phép, sai khiến được cả quỷ thần. Dòng họ này không những chỉ làm phù thủy mà còn là thương gia buôn bán ngọc quý, tơ lụa, đồ gốm sứ nên giàu có vô cùng, tiền tài như nước, nhà này lại không ở chốn kinh kì mà lập một biệt phủ trên núi cao phía bắc. Dãy núi này ban đầu lởm chởm vô cùng, đi lại khó khăn, vậy mà chỉ sau có vài đêm đã thấy đỉnh núi bằng phẳng như ai cào nhẵn, đường đi lên lát gạch đá rộng 2 thước, bề ngang dài gần trượng. Vài tháng sau thì một tòa nhà nguy nga tráng lệ mọc lên, đường ngang dãy dọc, phòng ốc vô số, nhìn to hơn cả phủ nhà quan. Trải qua hơn trăm năm, vị thế nhà họ Trương càng ngày càng vững, mở rộng địa bàn đến cả Tứ Xuyên, Vân Nam. Phù thủy nhà này đông vô số, lại tài phép vô cùng, từ gỡ trấn yểm đến trừ yêu diệt ma, cái gì cũng thông, ngón nào cũng thạo. Nhưng nhà này kiếm được nhiều tiền của mà không tham giữ riêng, năm nào cũng đem tiền, gạo đi phát cho dân chúng bị lũ lụt hai bên bờ Hoàng Hà, Trường Giang, tới lúc mất mùa đói kém thì mở kho phát chẩn cho nạn dân. Vậy nên dân chúng bái ngưỡng rất nhiều, lắm nhà còn lập cả bàn thờ sống. 

    Năm Đạo Quang thứ 24, tức năm 1843 sau Công Nguyên, thế đứng của gia tộc họ Trương càng ngày càng vững, phù thủy trong nhà lên đến vài trăm người, cao tay hàng Thần Đẳng có 16 người, hàng Thiên Đẳng thì có vài chục người, còn những hàng Nhân Đẳng, tập sự thì vô số kể. Thiên hạ đồn rằng trấn giữ nhà này có tới hai vạn gia đinh toàn tinh thông võ nghệ, lại nuôi cả âm binh quỷ tướng canh kho kim ngân châu báu. Dân gian bắt đầu có những bài vè ca tụng đức của nhà họ Trương mà nói bóng gió rằng chỉ cần trở tay là giành được thiên hạ, lấy lại giang sơn cho người Hán. Chuyện lâu dần truyền đến tai Hoàng Thượng, bá quan văn võ thì lắm kẻ xu nịnh, vu cho nhà Trương mua chuộc lòng dân để mưu đồ làm phản, thực không khác bọn Hoàng Cân ngày trước. Đồng Khánh nghe xong thì giận lắm, ba ngày sau phái ngay 4 vạn tinh binh cả người cả ngựa, đang đêm đánh lên núi nhà họ Trương, nhổ cỏ tận gốc. 

    Đêm đó, theo đám quan binh lên núi còn có vô số phù thủy cao tay khác đi cùng. Phần vì tiền vàng vua ban, phần vì thù oán, ganh ghét. Lên đến chân núi thì họ Trương đã biết từ bao giờ, một mặt cho gia đinh chặn lại, một mặt gọi hết âm binh nhà nuôi ra chống đỡ. Quân triều đình cho bắn tên lên núi làm chết hại rất nhiều gia đinh, sau đó thì người ngựa ào lên chém giết. Gia đinh nhà họ Trương liều chết bảo vệ chủ, đánh rất hăng. Nhưng gia đinh võ nghệ đến mấy thì cũng chẳng được huấn luyện bài binh bố trận, lại ít quân hơn, sao bằng được quân triều đình chinh chiến đã nhiều, vừa đông vừa mạnh. Chẳng mấy chốc mà hai vạn gia đinh tử thương gần hết, còn một số ít thì lui lên sân trước thủ cổng lớn. Quân tướng dưới núi thấy thắng thế thì kéo ồ lên, nhưng đi được một đoạn thì gió bụi mịt mù, sấm sét đầy trời, cứ nhè phía quân triều đình mà dội xuống, quân hoảng quá nên kéo nhau chạy xuống, xô đẩy giẫm đạp chết mất hơn ngàn người. Bống nhiên sau ngọn núi phía xa có tiếng nổ ầm ầm, long trời lở đất, một góc quả núi sạt xuống, rồi pháo hiệu bắn lên. Không ai ngờ được là bọn phù thủy đi cung đã dò được Long Mạch phát tích của họ Trương từ trước,hôm nay phá sập để phù thủy bên họ Trương không tài nào dùng phép được nữa. Thấy pháo hiệu lóe sáng, tất cả binh tướng kéo ào ào lên núi, đạp tung cổng mà vào, vào trong sân thì gặp ai là giết người đó, không chừa cả đàn bà con trẻ. Đêm hôm đó, gần ba ngàn nhân mạng gia tộc Trương, già trẻ lớn bé bị giết sạch không chừa một ai. Sau khi giết hết cả nhà, quân lính và phù thủy đổ xô đi lục lọi khắp nơi tìm vật quý mà cướp, nhưng ngoài mấy món đồ quý bày làm cảnh ra thì tìm khắp nơi cũng không thấy kho của đâu. Nhưng chuyện đó bị triều đình bưng bít lại, kêu là quân lính đi dẹp giặc trên biên cương phía bắc trở về.

    Trước đêm đó bốn ngày, gia tộc phù thủy họ Hãn ở Tây Tang nghe tin thông gia nhà mình sắp bị hại nên cấp tốc gửi 6 phù thủy Cự Ấn phi ngựa ngày đêm đến viện trợ. Nhưng lên đến nơi thì cả nhà họ Trương đã bị hại, trưởng tộc Trương Hoành Tích chết ngay trên ghế ngồi, ngực còn cắm thanh kiếm. Phù thủy nhà Hãn để ý thì thấy cụ như như đang giấu vật gì bên dưới sàn ghế, tất cả lấy lên thì thấy một cái hòm to có dán bùa, bên trên cài một phong thư có ghi : 

    "Ta là trưởng tộc Trương Hoành Tích, hôm nay nhận thấy vận nhà đã tận nên cũng không dám cưỡng cầu, đành đem hết cả nhà ra đánh một trấn sống mái, thử xem có xoay vần được mệnh trời không. Nhưng mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên, Long Mạch nhà ta bị phá đứt, sức bùa chú cũng thành vô dụng. Trong đây là sách ghi bùa chú, ấn giáp, phép thuật truyền từ đời tổ sư đến giờ, sáu vị nhà thông gia đến đây thì xin đem đến chi Thiết ở Thiểm Tây, xin hãy nể tình thông gia mà đừng tham đồ quý , mang vạ ắt chừng. "

    Sáu phù thủy nhà họ Hãn đọc xong thì hồn xiêu phách lạc, vội vàng gọi người đến mai táng cho cả nhà họ Trương, ba ngày sau thì lên đường đi thẳng một mạch sang Thiểm Tây. Vừa đến thì đã thấy trưởng tộc bên đó đứng chờ sẵn ở ngoài thành rồi, cả sáu người ai cũng khiếp về tài nghệ đoán vận của nhà này, giao cái hòm xong là đi ngay về Tây Tạng. Trưởng tộc lúc bấy giờ là Trương Thiết Nhật, đem hòm vào nhà rồi gọi tất cả con cháu ra. Mở hòm ra, thấy bên trong cất đầy sách nghề, bên trên có đặ một lá thứ ghi : Trưởng nam chính tông Trương gia phong. Bên trong thư viết: 

    Gửi trưởng tộc chi Thiết là Thiết Nhật lão đệ!
    Họ nhà ta vốn danh tiếng tiền tài, thứ gì cũng thừa thãi, con cháu nhà nối đời làm nghề phù thủy. Chính tông nhà ta may được hưởng phúc ấm của tổ tiên nên phát dương quang đại, làm rạng danh tổ sư được đến vậy. Nhưng mà mệnh trời an bài là họ nhà ta chỉ có một chi được sống sót trong tám chi, may sao đó lại là chi nhà đệ vậy. Ta những tưởng có thể đem cái nghề tổ sư truyền lại mà đi cứu độ bá tính, vớt vát chúng sinh khỏi bể lầm than. Nào ngờ bị bọn tham quan uốn lưỡi diều hâu mà tâu bày bịa đặt, cẩu Hoàng đế thì có mắt không tròng, tin lời xàm tấu, vu cho nhà ta tội mưu đồ tạo phản, nửa đêm đem quân lên tàn hại sạch cả nhà hơn ba ngàn nhân mạng, đáng lẽ ta thắng, nhưng nào ngờ có bọn phù thủy khác đi theo, đánh đứt Long Mạch nhà ta, việc đó ta thực không ngờ được, âu cũng là cái số phận quyết vậy. Nay ta xét thấy đất Thiểm Tây nhà đệ có Long Mạch ẩn ở dưới, tuy không phát tích ngay nhưng lại lâu bền vô cùng, ngàn đời cũng vẫn trường tồn được, còn như Long Mạch nhà ta thì tuy phát mạnh nhưng sớm tàn, gây nên cái họa diệt gia này. Trong tám chi thì chỉ được có chi nhà ta và nhà đệ là dễ có được kì nhân xuất thế, chi nhà đệ lại là chi mạnh nhất còn lại. Vậy nên ta mới gửi gắm hi vọng vào, mong sao nhà đệ nối được chí tổ sư, và cũng là để trả mối thâm thù này. Trong đây là sách quý mà họ nhà ta bao đời nghiên cứu, sáng tạo, chứa đựng cái học của cả họ, vậy đễ hãy giữ lấy mà truyền dạy cho con cháu, sau này có người giỏi, tự khắc sẽ trả được thù nhà. Bản sau ta có liệt kê ra tên họ của tất cả bọn tham quan ô lại và lũ phù thủy mượn gió bẻ măng.
    Ý có ngàn lời, thư từ không sao kể hết, những mong đệ hiểu lòng ta.
    Trưởng nam Trương Hoành Tích nay thư !

    ………………………………………….

    Sau khi nghe kể về quá khứ huy hoàng và đẫm máu của họ nhà thằng Việt, cả lũ ngồi lặng đi hồi lâu. Một lúc sau, thằng Việt cất tiếng nói : 

    - Cái lão đêm qua là một trong số những con cháu của bọn phù thủy năm xưa, tao nhìn thấy vòng tai lão đeo là nhận ra ngay. 

    Nói xong thằng Việt nhìn xa xăm ra phía rừng núi phía xa, mắt đượm buồn. 


    ………The End………….


    Radio liên quan:

    Ý kiến bạn đọc [0]:

Thông báo

Đóng

Những tâm sự muốn sẻ chia, những bài viết cảm nhận về cuộc sống, những sáng tác thơ, truyện ngắn mời bạn nhấn vào đây để cùng chia sẻ bài viết với chúng tôi

To Top Page Up Page Down To Bottom Auto Scroll Stop Scroll